Chia cho nhau nụ cười héo úa Sẻ cho nhau giọt lệ tươi vui Xoa cho nhau bao vết chém của đời Cùng nhau nhặt lại những gì rơi rụng...Cùng nhau nhặt lại những gì rơi… rụng…

Ngày 07 tháng 07 năm 2011

Võ Đông Sơ là ai?


"Trời ơi bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn, nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn... Bạch... Thu... Hà..."Hễ 10 người dân miền Tây Nam bộ thì có tới… 11 người thuộc bài vọng cổ này, còn dân miền Đông Nam bộ thì 10 người có tới… 9 người rưỡi thuộc.
Thế nhưng mọi người biết gì về Võ Đông Sơ? Chắc chắn hầu hết đều biết một điều là Võ Đông Sơ… chết, vì bị bắn tên. Ngoài ra còn gì nữa? Có bao giờ bạn tự hỏi: Võ Đông Sơ là người Việt hay người Tàu? Võ Đông Sơ có thật hay không có thật? Võ Đông Sơ là con nhà ai?
Thiên tình sử nước Nam bị tưởng là của Trung Quốc
Trong văn học nước Nam, có những chuyện tình có gốc tích Trung Quốc nhưng vì đã quá thân thuộc nên dân ta có cảm giác là của nước mình, như Kim trọng – Thúy Kiều, Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga. Nhưng cũng có trường hợp thiên tình sử rất đẹp của nước Nam, nhưng lại bị tưởng là của Trung Quốc. Người mộ điệu cải lương nào mà không biết bài ca cổ “Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà” của soạn giả Viễn Châu.
Cách đây hơn 40 năm, khi bắt đầu biết đọc chữ, tôi đã dùng mấy đồng tiền ăn quà để mua tờ giấy in bài ca cổ này bày bán trên nền chợ trước trường học. Tôi đã thuộc lòng và thỉnh thoảng lại hát bài ca nói về chuyện tình lãnh mạn và bi tráng đẹp như cổ tích của Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà.
Thế nhưng, tôi cũng như nhiều người mộ điệu cải lương, cứ lầm tưởng đây là tích truyện Tàu nào đó thuộc đời Tống, đời Đường, giống như  Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, Lữ Bố - Điêu Thuyền, Phạm lãi – Tây Thi…Cho tới một lần, tôi về thị xã Gò Công (tỉnh Tiền Giang), ghé thăm miếu thờ Võ Tánh, người đã phò chúa Nguyễn Ánh gầy dựng nên cơ nghiệp nhà Nguyễn, và thú vị biết rằng câu chuyện Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà là của dân mình, rất gần gũi với đất Nam bộ quê tôi.

Về Gò Công nghe chuyện Võ Đông Sơ
Từ thành phố Mỹ Tho (Tiền Giang) đi về phía biển gần 40 cây số là tới thị xã Gò Công, vùng đất đã từng cống hiến cho triều Nguyễn 2 bà hoàng hậu là bà Từ Dũ và Nam Phương Hoàng Hậu. Tiếp tục đi về hướng biển thêm khoảng 5 cây số là đến ấp Gò Tre – xã Long Thuận – thị xã Gò Công. Đây là vùng đất nổi tiếng với trái sơ ri. 
Bên con đường nhựa nhiều xe cộ qua lại, cạnh gốc cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi, giữa khu vườn cây dại mọc um tùm là ngôi cổ miếu nhỏ dột nát, rêu phong, trên tấm biển ghi: Di tích Văn hóa Lịch sử cấp tỉnh – Miếu thờ Hoài Quốc Công Võ Tánh, thân sinh của chàng trai Võ Đông Sơ trong câu chuyện tình nói trên.

Sử sách ghi rõ: Võ Tánh sinh năm 1768, quê gốc ở làng Phước Tỉnh thuộc tỉnh Trấn Biên (nay là Bà Rịa – Vũng Tàu). Cha mẹ mất sớm, Võ Tánh cùng với người nhũ mẫu trôi dạt về vùng Gò Công ngày nay. Nhờ sức khỏe hơn người, Võ Tánh khi lớn lên trở thành chàng trai khỏe mạnh, giỏi võ và gan dạ.
Vùng Gò Công khi ấy còn nhiều cọp, cá sấu, Võ Tánh đã đã tập hợp thanh niên trong vùng thành lập “đoàn quân nghĩa dõng” tổ chức đánh cọp, diệt cá sấu để đem lại cuộc sống yên bình cho người dân. Vùng đất một bên là biển, một bên là rừng này cũng là nơi tụ tập, hoạt động của nhiều băng nhóm trộm cướp, “đoàn quân nghĩa dõng” của Võ Tánh cũng thường xuyên trấn áp trộm cướp, trừ gian diệt bạo, giữ an lành cuộc sống cho người dân vùng Gò Công.
Vùng đất heo hút Gò Công không trói buộc nỗi chí trai, Võ Tánh đã cùng “đoàn quân nghĩa dõng” do mình tổ chức giương cờ phò Chúa Nguyễn Phúc Ánh trong cuộc đối đầu với anh em nhà Tây Sơn. Sau khi lập nhiều chiến công, Võ Tánh được Chúa Nguyễn Ánh gả em gái là công chúa Ngọc Du, họ có được 1 đứa con trai đặt tên là Võ Đông Sơ.

Miếu thờ Hoài Quốc Công Võ Tánh.
Miếu thờ Hoài Quốc Công Võ Tánh.

Nhờ lập được nhiều công trạng, Võ Tánh rất được Chúa Nguyễn Ánh tin dùng, được giao trấn thủ thành Bình Định, là thành tiền tiêu, có ý nghĩa chiến lược trong cuộc đối đầu Nguyễn Ánh – Tây Sơn. 
Đến khi quân Tây Sơn bao vây thành với lực lượng hùng hậu, trong khi lực lực cứu nguy của Nguyễn Ánh đã bị chia cắt, biết không thể đương đầu trong cuộc chiến không cân sức, Võ Tánh đã chủ động gửi thư cho quân Tây Sơn xin đừng tàn sát binh sĩ, ông sẽ đầu hàng và nộp thành.
Được sự chấp nhận và cam kết từ phía Tây Sơn không giết hàng binh, ngày 7.7.1801 Võ Tánh đã uống chung rượu tiễn biệt với binh sĩ, rồi lên trên tường thành tự thiêu trước sự chứng kiến của quân sĩ hai bên. 
Các tướng lĩnh Tây Sơn không chỉ giữ đúng lời hứa không giết hại binh sĩ bại trận, mà còn tỏ thái độ khâm phục nghĩa cử anh hùng của Võ Tánh. 
Khi Nguyễn Ánh lên ngôi Vua vào năm 1802, một trong những quyết định đầu tiên là truy tặng Võ Tánh danh hiệu “Dực vận Công thần Thái úy Quốc công”. Về sau Vua Minh Mạng truy phong Võ Tánh là Hoài Quốc Công.Sau khi Võ Tánh qua đời, người dân Gò Công đã lập miếu thờ để ghi nhớ công ơn của ông đối với vùng đất này cũng như chí khí anh hùng của ông khi một mình tự thiêu để cứu ba quân. 
Về sau, chàng thanh niên Võ Đông Sơ khi đã trưởng thành đã một mình phi ngựa từ Bình Định vào Gò Công thăm quê cha và ghé đốt nhang, ngủ đêm trong ngôi miếu thờ Hoài Quốc Công Võ Tánh. 

Hàng năm vào các ngày 26 và 27 tháng 5 âm lịch, người dân Gò Công tổ chức cúng Võ Tánh khá tươm tất như là một lễ hội nhỏ trong vùng. Năm 2005 miếu thờ Võ Tánh được công nhận Di tích Văn hóa Lịch sử cấp tỉnh.

Tình sử Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà
Tôi đã một lần về Gò Công ở đêm để dự ngày giỗ Hoài Quốc Công Võ Tánh. Giỗ Võ Tánh thường được Ban Quản trị ngôi miếu tổ chức từ chiều hôm trước đến trưa hôm sau. Đêm hôm đó bao giờ cũng có chương trình đờn ca tài tử kéo dài đến tận khuya. Có một bài hát không thể thiếu trong chương trình ca hát là bài Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà. 
Đã bao lần nghe bài hát này với giọng hát của nam danh ca Minh Cảnh, nhưng khi được nghe hát ngay dưới miếu thờ Võ Tánh, nơi đã từng đón bước chân Võ Đông Sơ, tôi thấy cảm xúc dâng trào. Những người cao tuổi còn hát được trích đoạn trong vở tuồng Giọt máu chung tình (cũng nói về chuyện tình Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà) từng rất nổi tiếng vào thập niên 1930 do đoàn hát Huỳnh Kỳ của Bạch công tử Lê Công Phước dàn dựng, vai Bạch Thu Hà do chính cô Bảy Phùng Há thủ diễn.

Vào khoảng đầu thập niên 1960, ở Sài Gòn xuất hiện cuốn sách nhỏ (có hình minh họa) viết về tình sử Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà. Cuốn sách ghi rõ: Võ Đông Sơ là con của Hoài quốc Công Võ Tánh và công chúa Ngọc Du; Bạch Thu Hà là con quan Tổng trấn Tây Thành. Sau khi Võ Tánh và Ngọc Du lần lượt qua đời, Võ Đông Sơ sống với người chú ruột tại Bình Định. Còn Bạch Thu Hà con của quan Tổng trấn Thành Thăng Long.
Khi nghe triều đình mở khoa thi để tuyển chọn nhân tài ra dẹp giặc Tàu Ô đang hoành hành trên mặt biển Ðông, Võ Đông Sơ bèn lên đường đi Thăng Long thành dự thi. Dọc đường, chàng trai họ Võ đã ra tay đánh cướp cứu tiểu thư Bạch Thu Hà trên đường đi lễ chùa gặp nạn. Dưới ánh trăng rằm, bên ngôi cổ tự, hai người đã thề nguyện chuyện trăm năm, hẹn ước về một cuộc trùng phùng…
Sau đó Võ Đông Sơ thi đỗ và tòng sự dưới trướng của Tổng Trấn Bắc Hà - Quận Công Lê Văn Duyệt. Sau đó được phong cho chức Đô Úy, lãnh quân ra trừ giặc Tàu Ô .
Ở nhà, Bạch Thu Hà trốn nhà ra đi vì chối bỏ hôn nhân do người anh sắp đặt cho nàng với người khác. Trên đường đi, Bạch Thu Hà cũng gặp nhiều gian truân trắc trở hiểm nguy nhưng nàng cũng một lòng trung trinh với Võ Đông Sơ. Khi hay tin Võ Đông Sơ tử trận ngoài biên ải (Lạng sơn?), Bạch Thu Hà quyên sinh để giữ trọn niềm trung trinh với người tình. 

Chuyện tình có thật Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà gần giống với chuyện tình trong văn học Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga được nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu sáng tác sau đó, nhưng chuyện tình Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga kết thúc “có hậu” hơn, dù trải qua bao thăng trầm, cuối cùng đôi “trai tài gái sắc” đã có cuộc trùng phùng, chứ không “vĩnh viễn chia ly” như Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà.
Từ câu chuyện tình này, soạn giả Viễn Châu đã viết 2 bài ca cổ “Võ Đông Sơ” (Minh Cảnh hát) và “Bạch Thu Hà” (Lệ Thủy hát), trong đó bài “Võ Đông Sơ” đã trở nên quen thuộc với mọi người yêu thích ca cổ, với những đoạn: “Bạch Thu Hà, Bạch Thu Hà ơi! Nàng đã bao phen vượt suối trèo non để giữ vẹn tiết trinh, ta mấy bận lao mình trong nắng gió. Chuyện hàn huyên chưa cùng nhau cạn tỏ, thì giọt máu chung tình đã nhuộm thấm chinh y. Từ đây hết nợ hết duyên, hết ân hết ái, lưỡi gươm thiêng ta xin gởi lại cho người yêu lý tưởng Bạch Thu Hà…”.

Chuyện tình đẹp là chuyện tình buồn
Những chuyện tình kết thúc trong đau thương như “Romeo – Juliet” (ở nước Anh), “Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài” (Trung Quốc) hay “Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà”, “Lan và Điệp” (ở nước ta) luôn là niềm cảm hứng cho các môn nghệ thuật và sống mãi với thời gian.
Người đời ghi nhớ những câu chuyện tình đó vì nó là biểu tượng của sự thủy chung và quá đau thương. Nhưng theo tôi, còn có lý do quan trọng khác nữa là: ngầm nhắc những người trong cuộc của các mối tình trọn vẹn hãy biết quý trọng hạnh phúc mà mình đạt được! Với ý nghĩa đó, tình sử “Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà” sẽ có giá trị mãi với đời. Người đời sau sẽ còn hát bài ca về câu chuyện tình của họ như là cách bày tỏ khát vọng về hạnh phúc, tình yêu, lòng thủy chung.

Bài ca tân cổ Võ Đông Sơ
Soạn giả: Viễn Châu
Ca sĩ: Minh Cảnh


[NHẠC] 
Biên cương lá rơi Thu Hà em ơi Đường dài mịt mùng em không đến nơi Mây nước buồn cơn lửa binh Hết kể chuyện chung tình Khóc than riêng em một mình. 
Cây tuôn lá xanh xây mồ cho anh Tình đầu bẻ bàng trong cơn chiến chinh Đưa tiễn nào hay rẽ chia Cách trở hận muôn đời Nói nữa chi thêm nghẹn lời... 
[CÂU 1] : 
VC1: Trời ơi bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn Nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu ... Hà (HÒ) 
Bạn tình ơi đừng hoài công mòn mõi đợi chờ (HÒ) 
Hãy gọi tên anh trong những chiều sương lạnh Khi cánh nhạn bay về cuối nẻo trời xa (XÊ) 
Hay những lúc canh khuya tựa rèm châu ngắm áng trăng tà Nàng hãy nhớ (XANG) 
đến tháng năm này Có một người yêu đã vùi thây giữa vùng cát trắng...(CỐNG) 
[CÂU 2] : 
Ta cảm thấy một vùng trời đất hình như đảo lộn Máu đào tuôn ướt đẫm nhung bào (HÒ) 
Ta gọi tên em trong tiếng nấc nghẹn ngào (HÒ) 
Đây mới thật là lần chia ly vĩnh viễn Hết mong gì gặp gỡ cùng nhau (XÊ) 
[NHẠC *G VC] Rượu ly bôi ngày ấy tiễn anh đi Hoa lá bay theo vó ngựa phi (XANG) 
Có biết đâu buổi tiễn đưa hôm ấy 
[TIẾP VÔ VC] Là buổi chia lìa nàng chờ đợi mà chi...(XANG) 
[THƠ] Ta cảm thấy máu ngừng trong nhịp thở Rút gươm thiêng mà dòng lệ tuôn sa Khắc vào cây ba chữ Bạch Thu Hà Để kỷ niệm ngày ta không gặp nữa 
[CÂU 4] : 
VC2 : Tuấn mã ơi, Hãy phi mau về báo hung tin cho quân ta được rõ Rằng Võ Đông Sơ đã vùi thây trong gió bụi quan ... hà (HÒ) 
Tiếng kẻng thu quân tắt lịm tự bao giờ (HÒ) 
Hoàng hôn phủ trùm trên bãi chiến Một vẻ u buồn lạnh lẽo tiêu sơ (XÊ) 
[THƠ] Lá rừng rơi rụng như mưa Phải chăng xây hộ nấm mồ cho ta (XANG) 
Máu hồng theo lệ tuôn sa Nhắc câu chung thủy lòng ta nghẹn ngào (HÒ) 
[CÂU 5]: 
[NHẠC] Máu đào tuôn rã ướt nhung bào Chí anh hùng vùi trong khí đao Bóng chiều rơi cuối nẻo biên thùy Ta thấy miền xa rủ bóng quân kỳ (HÒ) 
[TIẾP VÔ VỌNG CỔ] Ta muốn kêu lên ba tiếng Bạch Thu Hà (HÒ) 
Bạch Thu Hà ôi tim ta như ngừng đập Máu tuần hoàn dâng chảy khắp châu thân (XÊ) 
Thôi thôi lỡ làng tiếng hẹn trăm năm Từ đây nàng có nhớ đến ta hãy ngâm câu : (XANG) 
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi... (XỀ) 
[CÂU 6] : 
Bạch Thu Hà, Bạch Thu Hà ơi (XÊ) 
Nàng đã bao phen vượt suối trèo non Để giữ vẹn tiết trinh Ta mấy (XANG) 
bận lao mình trong nắng gió Chuyện hàn huyên chưa cùng nhau cạn tỏ (CỐNG) 
Thì giọt máu chung tình đã nhuộm thấm chinh y. Từ đây hết nợ hết duyên (XANG) 
hết ân hết ái Lưỡi gươm thiêng ta xin trao trả lại Cho người yêu lý tưởng Bạch Thu Hà...(XÊ) 
[NHẠC] Hỡi tình chung ơi, Đường dài mịt mùng em không đến nơi Mây nước buồn cơn lửa binh (XANG) 
Hết kể chuyện chung tình Khóc than riêng em một mình.../. (HÒ)

St & tổng hợp từ net

3 nhận xét:

XN nói...Trả Lời

Hôm đi Khánh hòa ăn bún thịt xào, nghe đâu cũng có người đã từng "bày tỏ khát vọng tình yêu" với ông chủ tịch,mọi người có mặt đều nghe thấy, ,hé...hé...

XN nói...Trả Lời

Và bây giờ "sáo đã sang sông" nên tiếc hùi hụi,hí..hí...

VietQuoc nói...Trả Lời

Oan ức, oan ức!

Cảm nghĩ của bạn

Cảm ơn bạn đã xem bài đăng! Xin cho biết cảm nghĩ của bạn!

Đầu trang
Giữa trang
Cuối trang