Chia cho nhau nụ cười héo úa Sẻ cho nhau giọt lệ tươi vui Xoa cho nhau bao vết chém của đời Cùng nhau nhặt lại những gì rơi rụng...Cùng nhau nhặt lại những gì rơi… rụng…

Ngày 18 tháng 08 năm 2014

SỮA VÀ NHỮNG BẤT CẬP CỦA THIÊN ĐƯỜNG HẠ GIỚI

Hầu như ai, từ thầy thuốc đến người mẹ đều biết sữa là quan trọng, nhưng cũng chưa có ai hiểu sữa là gì? Bài này tôi viết nhằm để cho cộng đồng hiểu sữa là gì? Có bao nhiêu loại sữa? Sữa có giới hạn của nó ở đâu? nhằm cho cộng đồng không bị mê hoặc bỡi những quảng cáo quá sự thật, mà truyền thông của xã hội gần đây đi sai vai trò của nó vì lợi nhuận.

Gần đây trên thị trường sữa Việt Nam có vấn đề bất cập về giá sữa, khi cuộc sống công nghiệp bắt đầu du nhập vào, và do bùng nổ dân số gây ra nhu cầu sữa một cách quá đáng, vì thiếu hiểu biết. Nên bộ tài chính buộc phải áp trần giá sữa nhằm cho người dân đỡ bị gian thương móc túi.

Nhưng sau áp trần gía sữa, thì thị trường sữa đồng loạt đổi tên là thực phẩm dinh dưỡng bổ sung, để lách luật gây giá ảo móc túi người dân.
Sau khi bộ tài chính áp trần giá sữa, thì tất cả các công ty sữa trong và ngoài nước sửa lại nhãn bao bì là Sản phẩm dinh dưỡng công thức, nhằm tạo bão giá lách luật.
Định nghĩa
Trước tiên muốn dùng sữa đúng thì phải hiểu sữa là gì? Cũng giống như tất cả các khái niệm khác, định nghĩa rất quan trọng.
Sữa là một chất lỏng màu trắng đục được sản xuất bởi các tuyến vú của động vật có vú. Nó là nguồn gốc chính của dinh dưỡng và cả kháng thể chống lại bệnh tật cho động vật có vú ở giai đoạn mới sinh ra, trước khi chúng có thể tiêu hóa các loại thực phẩm mà thiên nhiên và xã hội tạo ra.
Tiêu chuẩn đạm là tiêu chuẩn bắt buộc và phải có của sữa là phải có 34% đạm trong sữa. Tất cả các loại gọi là sữa, mà thành phần đạm dưới 34% tổng trọng thì không phải là sữa, mà chỉ là thực phẩm bổ sung. Các tiêu chuẩn này sữa mẹ của loài động vật có vú chỉ đáp ứng được trong 6 tháng đầu hậu sản. Sau 6 tháng hậu sản sữa mẹ của động vật có vú không còn đáp ứng được, vì lượng kháng thể chống lại bệnh tật, cũng như hàm lượng khác - trong đó có đạm - giảm dần.
Tiêu chuẩn đạm trong sữa theo Tổ chức y tế thế giới phải đạt 34%.
Đặc điểm
 
Từ đó ta thấy sữa đúng định nghĩa có 3 đặc điểm quan trọng sau đây:
1. Là chất dinh dưỡng thiết yếu, có đầy đủ thành phần cho động vật có vú sơ sinh sống.
2. Là chất chống lại bệnh tật cho động vật có vú trong thời kỳ sơ sinh.
3. Là chất để cơ thể của động vật có vú trong thời kỳ sơ sinh dùng để xây dựng và phát triển hoàn thiện.
 
Phân loại
Từ định nghĩa gốc này cho chúng ta thấy các vấn đề sau:
Phân loại sữa thì có 2 loại: 
1. Sữa mẹ cho mỗi loài động vật riêng lẻ như, sữa người, sữa vượn, sữa khỉ, sữa cá voi, sữa bò, etc.
2. Sữa động vật nhân tạo như sữa bò, sữa dê, sữa thực vật, etc dùng để cho người dùng, hoặc cho động vật cần săn sóc.
Tạo hóa rất khoa học, và tinh vi là, sữa mẹ chỉ có giá trị trong 6 tháng đầu tiên sau sinh là đầy đủ mọi tính chất, đặc điểm của sữa, và 6 tháng cũng là thời gian mà, động vật có vú sau sinh cũng đã hoàn thiện cả bộ nhai để bắt đầu cho cuộc tự dưỡng và dị dưỡng của mình. 
Sữa có vai trò chống loảng xương không?


Câu trả lời là CÓ và KHÔNG!
Tại sao có? Vì trong sữa có hàm lượng calcium cao. Calcium là thành phần chính để tạo xương ở tuổi trưởng thành và phát triển cơ thể. Và sữa chỉ có giá trị cho xương khi Calcium trong sữa được chuyên chở đến xương nhờ vào hormone sinh dục, và ở tuổi còn vận động nhiều.
Tại sao không? Vì để Calcium đi đến đúng nơi cần Calcium tạo xương thì cần phải có 2 điều kiện: hormone sinh dục như là chiếc xe chở đến đúng nơi cần Calcium, và vận động là yếu tố xúc tác cho quá trình xây dựng xương chắt và chịu lực.
Như tôi đã viết gần đây, 35 tuổi là tuổi của sự bắt đầu tiến trình lão hóa diễn ra của con người. Có nghĩa là, quá trình chết diễn ra mạnh hơn quá trình sống. Và loảng xương cũng bắt đầu diễn ra, nhưng quá trình loảng xương diễn ra mạnh mẽ nhất bắt đầu từ lúc phụ nữ bặt kinh, và đàn ông không còn ham muốn tình dục.
Gần đây có loại sữa được báo chí, đài truyền hình, truyền thanh bảo rằng sữa chống loảng xương cho người cao tuổi là sai. Vì người cao tuổi cơ quan sinh dục đã giảm, hoặc ngừng hoạt động sinh đẻ ở nữ, và đòi hỏi tình dục ở nam, nên không còn đủ hormone sinh dục để đưa Calcium và nơi cần để tạo xương. Người già chỉ còn cách là vận động như, đi bơi, tập nhẹ kiên trì để chống quá trình loảng xương do lão hóa gây ra.

Uống sữa lúc nào?

Dĩ nhiên về mặt sinh lý hấp thu phải hợp với lẽ tự nhiên là trẻ sơ sinh chỉ uống sữa lúc đói. Đối với người lớn cũng vậy, phải uống sữa lúc đói mới có tác dụng tốt cho cơ thể. Vì trong sữa có Calcium và chất bổ dưỡng chỉ được hấp thu tốt lúc đói, mà không bị kết tủa và bị thải theo phân, khi có các hợp chất gây phản ứng kết tủa vì thức ăn khác trong ống tiêu hóa.

Nhưng có nhiều bà mẹ ông bố, sau khi con mình đã được ăn no nê buổi cơm chiều, thì tối đến lại cho con mình nốc thêm 1 ly sữa to, vì thế mà bé trở nên béo phì. Sữa phải được uống trước khi ăn ít nhất 1 giờ đồng hồ khi bụng đói mới hợp sinh lý của cơ thể.
Sữa trên thị trường có phải là sữa không?
Rõ ràng theo tiêu chuẩn và định nghĩa sữa thì không có bất kỳ loại sữa nào được quảng cáo, và bán trên thị trường toàn cầu được gọi là sữa, mà phải gọi là thực phẩm bổ sung - Supplementary Food. Nhưng khi về đến Việt Nam cái từ Supplementary Food được các nhà kinh doanh dịch ra thành, Thực Phẩm Chức Năng, để biến nó từ thực phẩm bổ sung cũng giống như tôm, cá, rau, củ, quả mà chúng ta vẫn ăn hằng ngày thành "thuốc", nên chúng có giá đắt hơn thuốc!

Sữa hiện nay trên thị trường Việt Nam chỉ có nồng độ đạm chưa bằng 50% nồng độ đạm mà Tổ chức Y tế Thế giới quy định!
Ăn uống là thuốc để xây dựng và phát triển cơ thể sống. Nhưng ăn uống sai là thuốc độc để cơ thể mau bệnh tật, và dẫn đến tử vong.
Kết
Bộ y tế cần những con người có kiến thức y học chuẩn mực, và hàn lâm. Các bộ ngành khác của chính phủ Việt Nam cần có những con người có kiến thức hàn lâm, có tâm, và có tầm với Tổ quốc và Dân tộc, cùng hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ với nhau, thì mới mong đem lại những hiểu biết đơn giản cho người dân, nhằm dân không bị thiệt, mà nền kinh tế không bị chảy ngân sách ra nước ngoài thì văn hóa chuộng hàng ngoại của dân Việt bấy lâu nay.
BS HỒ HẢI
Asia Clinic, 12h24' ngày thứ Năm, 14/8/2014

Ngày 14 tháng 08 năm 2014

Đại học VN không giống ai


Tôi có một ước vọng nho nhỏ: đó là sưu tầm và hệ thống hoá những qui định lạ lùng, nhưng câu chuyện “không giống ai” trong vài đại học ở VN. Có thể chỉ là những chuyện nhỏ, nhưng ý nghĩa thì không nhỏ chút nào, vì nó liên quan đến cái mộng đại học đẳng cấp quốc tế của VN.
Qui định về thời gian đào tạo tiến sĩ. Trước đây tôi đã bày tỏ ngạc nhiên về qui trình và thời gian đào tạo tiến sĩ ở một vài đại học trong nước. Ở một trường đại học có tiếng tại Sài Gòn, người ta qui định rằng thời gian đào tạo tiến sĩ là 4 năm nếu nghiên cứu sinh (NCS) có bằng tốt nghiệp đại học. Điều còn ngạc nhiên hơn là nếu NCS đã có bằng thạc sĩ [tức master] thì thời gian học chỉ … 2 năm.
Tôi không rõ có đại học nghiêm túc nào trên thế giới mà đào tạo tiến sĩ chỉ 2 năm. Ở UNSW (tôi chỉ nói khoa y), thời gian đào tạo trung bình là 4 năm, nhưng thường lấn sang năm thứ 5. Có người tốn cả 6 năm mới xong chương trình học. Đối với nhiều trường, thời gian không phải là qui định chính, mà công trình nghiên cứu được công bố quốc tế mới là qui định chính. Ở các nước Bắc Âu, luận án tiến sĩ là tập hợp 3-4 công trình đã công bố trên các tập san quốc tế. Do đó, NCS có thể tốn cả 7 hay 8 năm để “trả nợ” mới được bảo vệ luận án.
Qui định về công bố và luận án tiến sĩ. Cũng đại học nọ ở Sài Gòn có qui định rất lạ lùng. Đó là qui định rằng NCS không được công bố bài báo khoa học trước khi bảo vệ luận án. Đây là một qui định “ngược đời”. Ngược đời ngay cả đối với các đại học VN. Như đề cập trên, các đại học phương Tây người ta qui định NCS phải công bố bài báo khoa học trên các tập san quốc tế trước khi bảo vệ luận án; nếu không công bố kịp trên tập san thì cũng công bố trong các hội nghị chuyên ngành có uy tín. Đâu có ai lại qui định ngược đời như đại học đó.
Qui định về dự hội nghị nước ngoài. Đại học T kia cũng ở Sài Gòn có qui định cho nhân viên (bất kể giảng viên hay nhân viên hành chính) rằng mỗi năm chỉ được đi nước ngoài 2 lần, bất kể được mời hay tự nguyện. Tôi ngạc nhiên vì nếu ban tổ chức mời nói chuyện và trả tiền vé máy bay và tiền ăn ở, nhưng với qui định này đương sự đành phải từ chối.
Tôi chưa bao giờ thấy một qui định nào lạ lùng và phản học thuật đến như thế. Nếu nhà khoa học hay giảng viên có tiếng thì việc được mời giảng ở nước ngoài xảy ra thường xuyên. Người ta khuyến khích đương sự đi dự vì đó là một VINH Dự cho trường (và cho cá nhân đương sự), đâu có ai điên rồ đến nỗi cấm đoán không cho đi?! Có lẽ ở VN người ra qui định không biết luật chơi khoa học nên đề ra những qui định rất phản học thuật như thế.
Ấn phí. Công bố nghiên cứu trên các tập san quốc tế có khi phải trả tiền ấn phí. Số tiền này có thể từ 400 đến 1000 USD, tuỳ số trang và tuỳ vào tập san. Nhiều trường đại học ở VN ý thức được tầm quan trọng của công bố quốc tế, nên họ khuyến khích giảng viên và nhà khoa học công bố nghiên cứu trên các tập san quốc tế danh giá. Họ sẵn sàng trả tiền ấn phí. Nhưng cũng có những đại học lớn và tầm quốc gia thì chẳng những không khuyến khích công bố quốc tế, mà nếu giảng viên có công bố thì đại học cũng không trả tiền ấn phí.
Những đại học này lí giải rằng việc công bố là đem lại lợi ích cho cá nhân của giảng viên, chứ chẳng liên quan gì đến trường, nên họ không có lí do gì phải trả tiền ấn phí hay khuyến khích giảng viên phải công bố quốc tế. Đó là một tầm nhìn sai lầm và thiển cận, có phần đố kị. Ở nước ngoài, khi giảng viên có bài trên các tập san tốt (có impact factor cao) người ta tổ chức ăn mừng và cho cá nhân tác giả tiền thưởng hàng ngàn USD. Ở Tàu, các đại học có ngân sách khuyến khích công bố quốc tế bằng cách thưởng tiền, và số tiền thưởng tuỳ theo impact factor của tạp chí. Vậy mà có đại học ở VN thiển cận đến nổi xem công bố quốc tế là chuyện cá nhân của giảng viên!
Hệ số lương giảng viên không bằng bí thư chi đoàn. Hôm qua, một bạn đọc cho xem hệ số lương của một trường đại học bách khoa (và cũng có thể là qui định chung cho cả nước?) tôi hơi sốc. Theo qui định này, hiệu trưởng có hệ số lương 15, cao nhất trong trường. Phó hiệu trưởng có hệ số lương 10, cao hơn trưởng khoa (7-8). Nhưng cái sốc là trường cũng phải trả lương cho cán bộ đảng và đoàn! Hệ số lương của bí thư đảng uỷ là 12, tức cao hơn cả phó hiệu trưởng! Bí thư đoàn thanh niên có hệ số lương 6, cao hơn phó khoa (với hệ số 5).
Qui định này nói lên rằng một cá nhân chẳng cần học hành gì cho tốn công sức, chỉ cần phấn đấu làm bí thư đảng uỷ là cũng có lương cao. Trẻ hơn thì chỉ cần nắm được cái chức bí thư đoàn thì cũng hơn phó khoa. Qui định này, một cách hùng hồn, xem thường giới học thuật và giảng viên của trường. Giảng viên, trưởng/phó khoa là cái rường cột của trường đại học mà được đối xử như thế thì thử hỏi ai muốn phấn đấu học hành lên PhD làm gì.
***
Như tôi nói lúc ban đầu, những qui định và câu chuyện này nhìn bề mặt thì nó nhỏ hay rất nhỏ, nhưng nó là sản phẩm của những tư duy lỗi thời, bao cấp, độc quyền. Nó chứng minh rằng cái tư duy độc quyền đó vẫn còn ngự trị trong đầu một số người có quyền trong các đại học. Có hiệu trưởng còn phàn nàn rằng tại sao ban tổ chức hội nghị không gửi thư mời cho hiệu trưởng để họ phân công cán bộ đi dự, mà lại gửi cho cá nhân giáo sư. Đúng là tư duy độc quyền và độc tài còn sót lại thời bao cấp, và chẳng biết gì về luật chơi khoa học quốc tế.
Thử hỏi trên thế giới có ai lại cấm không có giáo sư đi nước ngoài hơn 2 lần? Ở trường tôi, những giáo sư nổi tiếng được các hội nghị mời, các trường khác mời, và họ đi nước ngoài như “đi chợ”. Họ là bộ mặt của trường, sự có mặt của họ trong các hội nghị, trên bục giảng là vinh dự của trường, là một quảng bá tuyệt vời cho trường. Người ta có thể không nhớ ông giáo sư Smith, nhưng người ta nhớ tên trường. Ấy thế mà có những đại học VN không nhận ra điều này và ra những qui định chẳng giống ai.
Những câu chuyện và qui định trên đây chắc chắn chưa đầy đủ, nhưng nó nói lên những bất cập một cách nghiêm trọng trong tư duy của một số người giới lãnh đạo đại học. Việt Nam muốn các đại học hội nhập quốc tế, tức là theo “luật chơi”, hay ít ra là phải am hiểu những qui ước và qui định của các đại học nước ngoài. Việt Nam cũng có ý nguyện muốn có một vài đại học thuộc vào nhóm “đẳng cấp quốc tế”, hiểu theo nghĩa có tên trong các danh sách đại học hàng đầu thế giới. Nghiên cứu khoa học là tiêu chuẩn số 1 để đại học VN có thể có tên trong các đại học hàng đầu thế giới. Nhưng hiện nay, đã ở thế kỉ 21 này, mà vẫn còn có những đại học có những qui định rất ư là phản học thuật, những tầm nhìn rất ư là cục bộ và chẳng có gì là đại cục quốc gia hay tầm nhìn thế giới. Nhiều người thích nói chuyện lớn “đẳng cấp quốc tế”, nhưng những chuyện nhỏ như thế này cho thấy với tư duy và tầm nhìn này, các đại học VN sẽ khó hội nhập quốc tế, và đừng mơ mộng đến “đẳng cấp quốc tế”.

GS Nguyễn Văn Tuấn
13-08-2014

Ngày 13 tháng 08 năm 2014

Phát biểu báo chí của TNS John McCain

Hà Nội ngày 8 tháng 8, 2014 

Tôi là Thượng Nghị Sĩ John McCain, tôi luôn cảm thấy hân hoan mỗi khi trở lại Việt Nam. Có Thượng Nghị Sĩ Sheldon Whitehouse của tiểu bang Rhode Island đi cùng tôi.

Chúng tôi đến Hà Nội vào một thời điểm quan trọng: Sang năm sẽ đánh dấu 20 năm từ ngày bình thường hoá quan hệ giữa chúng ta. Đối với những người trong chúng ta đã góp phần trong tiến trình này, tiến triển mà chúng ta đạt được trong thời gian ấy là đáng ngạc nhiên. Cùng lúc, chúng tôi ghi nhận rằng chúng ta còn có thể làm thêm nhiều hơn biết bao như là những thành phần đối tác, và chúng ta cần một chương trình nghị sự đầy tham vọng khi tiến vào năm tới, đặc biệt là trong bối cảnh của những sự kiện đáng lo gần đây ở Biển Đông. Tóm lại, bây giờ là thời gian cho Việt Nam và Hoa Kỳ cùng nhau thực hiện một bước nhảy vọt chiến lược lớn. Đó là lý do tại sao chúng tôi có mặt ở đây.

Về phần chúng tôi, Hoa Kỳ đã sẵn sàng để đáp ứng thách đố này với suy nghĩ và hành động mới. Chúng tôi đã sẵn sàng để hoàn tất:
- Một Hiệp Ước Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương ở tiêu chuẩn cao, với Việt Nam là một đối tác trọn vẹn. 
- Trong bối cảnh của TPP, làm việc với Việt Nam để đáp ứng các tiêu chí để được Hoa Kỳ công nhận là nền kinh tế thị trường. 
- Tăng cường hợp tác quân sự giữa chúng ta và số lần chiến thuyền Hoa Kỳ cặp bến Việt Nam theo như Việt Nam cho phép - không phải bằng cách thiết lập các căn cứ, đó không là điều chúng tôi mưu cầu, mà là thông qua các thỏa thuận để tăng sự tiếp cận, như chúng tôi đang hoàn tất thương thảo với các nước khác trong khu vực. 
- Chúng tôi cũng đã sẵn sàng để tăng cường hỗ trợ an ninh nhằm giúp Việt Nam nâng cao khả năng theo dõi trong lĩnh vực hàng hải và xây dựng năng lực bảo vệ quyền chủ quyền của mình.

Trong mục đích ấy, tôi tin rằng đã đến lúc Hoa Kỳ bắt đầu nới lỏng lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam. 

Điều này sẽ không, và không nên, xảy ra toàn bộ cùng một lúc. Thay vào đó, nó nên được giới hạn trước hết trong phạm vi khả năng phòng thủ, chẳng hạn như bảo vệ bờ biển và các hệ thống hàng hải, hoàn toàn thuộc về an ninh đối ngoại.

Chúng ta có thể làm đến bao nhiêu trong lĩnh vực này, cũng giống như trong các mục tiêu thương mại và an ninh tham vọng nhất khác của chúng ta, tuỳ thuộc nhiều vào hành động thêm nữa của Việt Nam về nhân quyền. Chúng tôi đánh giá cao những tiến bộ gần đây Việt Nam đã thực hiện, bao gồm việc ký Công Ước Chống Tra Tấn và đăng ký sinh hoạt cho nhiều nơi thờ phượng.

Đồng thời, các nhà lãnh đạo của Việt Nam thừa nhận còn nhiều việc phải làm, vì một lý do trên hết: Nó là điều tốt cho Việt Nam - cho sự ổn định, thịnh vượng và thành công của Việt Nam. Như Thủ Tướng Chính Phủ cho biết trong lời phát biểu đầu năm của mình, "Dân chủ là xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển của nhân loại." Chế độ ở Việt Nam, ông nói, "phải làm tốt hơn về dân chủ, và đảng phải giương cao ngọn cờ dân chủ."

Chúng tôi hy vọng rằng Việt Nam sẽ chuyển những lời đáng ghi nhận này thành những hành động mạnh dạn, chẳng hạn như trả tự do cho các tù nhân lương tâm, tạo không gian cho xã hội dân sự, và cuối cùng làm rõ trong pháp luật và chính sách rằng quyền lực nhà nước là hạn chế và các nhân quyền phổ quát -- các tự do phát biểu, lập hội, thờ phượng, xuất bản, và truy cập thông tin -- được bảo vệ cho tất cả công dân.


Trong thế kỷ cạnh tranh này, tất cả các nước phải đối mặt với cùng một câu hỏi: Điều gì khiến chúng ta khác biệt? Những gì chúng ta có để cống hiến? Tôi tin rằng Việt Nam có thể cống hiến một câu trả lời đầy uy lực - mẫu mực về một nhà nước đáp ứng những kỳ vọng gia tăng của người dân về một nền dân chủ, quản trị tốt và pháp quyền, sự thịnh vượng và phát triển xã hội, môi trường trong lành, và sức mạnh dân tộc để bảo vệ độc lập. Đó là một mẫu mực mà sẽ truyền cảm hứng cho những dân tộc khác trong khu vực, bao gồm cả láng giềng của các bạn ở phương bắc, để phải tự hỏi: tại sao chúng ta không thể giống như Việt Nam hơn?


Trong gần hai thập kỷ, Việt Nam và Hoa Kỳ đã xây dựng được một mối quan hệ vững chãi dựa trên các mục tiêu chung và các lợi ích chung. Chúng tôi hy vọng trong những năm tới chúng ta sẽ có thể xây dựng một quan hệ đối tác chiến lược dựa trên những giá trị chung - vì đó là quan hệ hữu nghị chặt chẽ nhất, vững mạnh nhất và lâu bền nhật mà hai quốc gia có thể có.
-----



Nguyên bản tiếng Anh:

Washington, D.C. ­– U.S. Senator John McCain (R-AZ) today delivered the following statement at a press conference in Hanoi, Vietnam:

“I am Senator John McCain, and it is always a pleasure to be back in Vietnam. I am joined by my colleague Senator Sheldon Whitehouse of Rhode Island.

“We have come to Hanoi at an important time: Next year is the 20th anniversary of the normalization of our relations. For those of us involved in that process, the progress we have made in this time has been astounding. At the same time, we recognize that we can do so much more together as partners, and that we need an ambitious agenda as we head into next year, especially in light of troubling recent events in the East Sea. In short, now is the time for Vietnam and the United States to take a giant strategic leap together. That is why we are here.

“For our part, the United States is ready to meet this challenge with new thinking and action. We are ready to conclude a high-standard Trans-Pacific Partnership, with Vietnam as a full partner. We are ready, in the context of TPP, to work with Vietnam to meet the criteria for U.S. recognition as a market economy. We are ready to increase our military cooperation and ship visits as much as Vietnam permits – not by establishing bases, which we do not seek, but through agreements for increased access, as we are concluding with other countries in the region. We are also ready to increase our security assistance to help Vietnam improve its maritime domain awareness and build its capacity to defend its sovereign rights.

“To that end, I believe the time has come for the United States to begin easing our lethal arms embargo on Vietnam. This will not, and should not, happen all at once. Rather, it should be limited at first to those defensive capabilities, such as coast guard and maritime systems, that are purely for external security.

“How much we can do in this regard, as with our other most ambitious trade and security objectives, depends greatly on additional action by Vietnam on human rights. We appreciate the recent progress Vietnam has made, including signing the Convention Against Torture and registering more places of worship.

“At the same time, Vietnam's leaders acknowledge there is more to be done, for one reason above all: It is good for Vietnam – for its stability, prosperity, and success. As the Prime Minister said in his New Year's address, ‘Democracy is the inevitable trend in the development process of humankind.’ The Vietnamese regime, he said, ‘must be much better in terms of democracy, and the party must hold high the banner of democracy.’

“It is our hope that Vietnam will translate these remarkable words into bold actions, such as releasing prisoners of conscience, creating space for civil society, and ultimately by making it clear in law and policy that state power is limited and universal human rights – the freedom to speak, associate, worship, publish, and access information – are protected for all citizens.

“In this competitive century, all countries face the same question: What sets us apart? What do we have to offer? I believe Vietnam can offer a powerful answer – the example of a state that delivers on its peoples' rising expectations for democracy, good governance and rule of law, prosperity and social development, a clean environment, and the national strength to defend its independence. That is an example that would inspire others in this region, including your neighbors to the north, to ask: why can't we be more like Vietnam?

“Over nearly two decades, Vietnam and the United States have built a strong relationship based on common goals and shared interests. We hope in the years to come to be able to build a strategic partnership based on shared values as well – for that is the closest, strongest, and most enduring friendship two nations can have.”

Nguồn: https://www.danluan.org/tin-tuc/20140810/nguyen-van-tuyen-bo-bao-chi-cua-tns-john-mccain-tai-ha-noi-ngay-080814#comment-125408

Ngày 12 tháng 08 năm 2014

“Dạy con phẩm chất thành công”

Thứ Sáu, Tháng Tám 01st, 2014
Thư gởi bạn xa xôi (8/14)
Buổi nói chuyện với các vị phụ huynh trường Việt – Úc hôm rồi là do Hội quán Các bà mẹ mời, đề tài “Dạy con phẩm chất thành công”.
Đề tài này thì ai cũng biết cả rồi, dĩ nhiên là trên lý thuyết còn để thực hiện thì không dễ chút nào! Nào nghị lực, tự tin, nào tinh thần trách nhiệm, hòa đồng, nào can đảm, nào trung thực, nào kỹ năng sống…! Và, trước hết, sức khỏe. Có lẽ vì thế mà họ mời một bác sĩ… nhi khoa.

Mình nói thành công là phải mang lại hạnh phúc, hạnh phúc cho mình và cho người. Nếu thành công đạt với “bất cứ giá nào” thì có khi nguy! Và quan trọng hơn, cần phát huy trên một nền tảng văn hóa bản địa, như chính trường Việt Úc đã nêu như một tiêu chí.
IMG_7864

Mình “cực lực phản đối” việc bây giờ nhiều trẻ con người Việt, ở giữa đất nước mình mà không biết nói tiếng Việt. Cha mẹ ông bà có vẻ tự hào về điều này mới lạ! Không chỉ vậy, tác phong của một số còn kênh kiệu, ta đây, coi khinh những bạn cùng lứa và khi gặp người lớn thì “Hi!” cái là xong. Về kỹ năng sống cũng vậy, đừng tưởng kỹ năng sống là những chuyện gì cao xa, chính những chuyện nấu cơm quét nhà rửa chén giặt đồ cũng là những “kỹ năng sống” cần thiết cho một đứa trẻ. Công việc nhà nhiều em không được động đến móng tay, mọi việc có mẹ có cha có người giúp việc lo hết! Trẻ chỉ còn mỗi việc chơi game và ăn  fastfood! Cho nên bây giờ có những em đi học ở nước ngoài, không biết làm gì hơn xin mẹ gởi cho mì gói!
Mình nhắc chuyện của Pearl Buck kể một bà mẹ nghèo nuôi con du học thành bác sĩ, lấy vợ đầm, khi vợ chồng về thăm mẹ chê mẹ dơ bẩn, đầy vẻ khinh khi… Dĩ nhiên cũng nhắc chuyện bà mẹ Mạnh Tử phải dời nhà ba lần, từ đó để thấy môi trường rất quan trọng với trẻ. Mình cũng kể chuyện Walter Mishe làm một thí nghiệm thưởng kẹo cho mấy trẻ 4 tuổi để đánh giá IQ và EQ ở trẻ, chứng tỏ rằng IQ cao là chưa đủ để thành công.

Khi nói về sức khỏe, mình nhắc một tâm hồn minh mẫn trong một thân thể tráng kiện. Không khỏe thì trẻ không thể học giỏi được. Ăn trước hết. Ăn đủ và ăn đúng. Tránh béo phì. Béo phì chẳng những gây nhiều bệnh mà còn khiến trẻ có mặc cảm với bạn bè, tội nghiệp lắm! Sau ăn là Ngủ. Trẻ phải ngủ đủ vì ở trẻ con kích thích tố tăng trưởng (Growth Hormone) hình thành trong giấc ngủ. Ngủ đủ, như sạc đầy pin, trẻ thông mình hơn, hoạt bát hơn. Bắt trẻ học như điên, học trường, học thêm, học kèm, học ngày học đêm thì dễ tẩu hỏa nhập ma. Ngày càng nhiều học sinh bị stress, bị trầm cảm, tự tử… Sau ăn, ngủ là chuyện vệ sinh cá nhân. Đứng quên chuyện bón, chuyện trĩ ở học sinh. Chọn trường cho con nhớ… tham quan cái toilet! Và cuối cùng, thể dục thể thao.
Chú ý phát triển tâm sinh lý khi trẻ lên 9 lên 10 vì thời nay trẻ dậy thì sớm, do khí hậu trái đất nóng lên, do thực phẩm… quá béo bổ tạo nhiều kích thích tố, do tác động internet, phim ảnh, truyện tranh… đầy sex!
IMG_7851
Phải dạy cho trẻ tính “tự học”, trước hết là phải “mê” đọc sách. Đọc sách tốt như có ông thầy, đọc nhiều sách thì có nhiều ông thầy, mau giỏi lắm! Một phụ huynh hỏi có cách nào giúp trẻ chịu đọc sách không trong thời buổi trẻ chỉ mê internet, TV, di động các thứ ? Thì trước hết người lớn phải làm gương, ông bà cha mẹ có đọc sách thì con cháu mới bắt chước. Rồi phải thường dẫn trẻ đi nhà sách; chịu khó kể chuyện hay trong sách; đọc sách cho bé nghe từ thuở lên ba; nhiều khi phải giấu sách, “cấm” đọc sách này sách nọ, thì trẻ vì tò mò sẽ lén đọc, rồi… mê! Mình kể chuyện hồi nhỏ vì bị cấm đọc mà mỗi lần đi mướn sách cho bà Cô mình đã vừa đi vừa đọc dọc đường hết trơn, nhờ vậy mà “ngốn” hết sách cả tiệm cho mướn sách đó! Sau này, mình cấm mấy đứa con đọc kiếm hiệp, giấu kỹ trong tủ nên tụi nhỏ lén đọc tuốt hết! Nhiều bậc cha mẹ khuyên con đọc sách về giáo dục giới tính vì không tiện nói và không biết cách nói thế nào thì trẻ cương quyết không chịu đọc. Nhưng thử mua vài cuốn như “Bỗng nhiên mà họ lớn” hay “Những câu hỏi của tuổi mới lớn”, “Khi người ta lớn”… của BS ĐHN (quảng cáo!) về đọc trước rồi làm bộ để quên đâu đó trên bàn, hoặc cấm trẻ không được… đụng tới, thế nào trẻ cũng lén đọc!  Ngoài ra, khi bé có người… yêu (bây giờ yêu sớm lắm!) ham đọc sách thì người yêu bảo gì nó cũng nghe. Mọi người cười sảng khoái vì chắc ai nấy cũng đều có kinh nghiệm! Một bà mẹ nói con bà 14 tuổi chỉ chịu đọc Tam Quốc Chí, Hán Sở tranh hùng, Thủy Hử… mà không đọc gì khác. Hỏi nó sao con không đọc mấy chuyện như… thì nó nói đó là chuyện con nít! Tốt, cứ để nó đọc theo sở thích, miễn không phải sách nhảm nhí.
Vậy đó, những buổi trò chuyện, giao lưu của mình toàn “tào lao” như vậy.
Vì bạn đã hỏi thăm thì phải “phúc trình” thôi!
Thân mến,
BS Đỗ Hồng Ngọc

Ngày 08 tháng 08 năm 2014

MÙA VU LAN...

HƯƠNG THƠM VẠN ĐÓA HOA HỒNG KHÔNG BẰNG TÌNH MẸ MẶN NỒNG TRONG CON

Ngày 07 tháng 08 năm 2014

Sự thất bại của giáo dục đại học VN

    
 * Gs. NGUYỄN VĂN TUẤN 
Giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, có lẽ là đề tài bàn luận muôn thuở. Ở VN, người ta bàn về vấn đề giáo dục đại học từ rất lâu, từ mô hình tổ chức đến phương pháp giảng dạy, và giảng viên & giáo sư.
Không phải như thời trước 1975 ở miền Nam, đại học là những trung tâm dành cho giới tinh hoa của đất nước, thường chỉ tồn tại ở thành phố lớn.
Thời tôi còn đi học, chỉ có một tỉ lệ nhỏ tốt nghiệp trung học, và chỉ 10%(?) trong số tốt nghiệp trung học vào được đại học. Nói cách khác, đại học ngày đó thu hút học sinh tinh hoa của tinh hoa. Còn ngày nay đại học mọc lên từ làng xã ra thành phố. Ai cũng tốt nghiệp trung học, thì phải tìm nơi cho họ học đại học. Có thể nói VN đang trải qua một phong trào "phổ thông hoá" đại học. Hiện nay, VN có 207 trường đại học được công nhận, và con số này vẫn còn tăng. Công chúng phải phải đặt câu hỏi về vai trò của đại học vì công chúng là người gián tiếp nuôi đại học qua tiền thuế. 
Có lẽ câu hỏi cơ bản đặt ra là: giáo dục đại học tồn tại để làm gì? Câu hỏi này cũng là một cách định hình và phân biệt giữa đại học và cao đẳng dạy nghề. Trong một bài viết cách đây 4-5 năm gì đó, tôi có phát biểu rằng trong một xã hội hiện đại, giáo dục bậc đại học có bốn chức năng chính: 
(a) đáp ứng nhu cầu tri thức của công chúng và giúp công chúng tự khai thác tiềm năng của mình và cống hiến lại cho xã hội; 
(b) sáng tạo ra tri thức mới qua nghiên cứu khoa học, và chuyển giao những tri thức này đến xã hội; 
(c) cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao, cần thiết cho sự phát triển của một nền kinh tế hiện đại; và 
(d) vận hành như là một trung tâm văn hoá, với chức năng khai hóa xã hội, hướng dẫn dư luận, cố vấn về đường lối và chính sách cho nhà nước.
Nếu nhìn chức năng của đại học theo cái nhìn đó và đối chiếu với thực tế, tôi nghĩ đại học VN thất bại gần hết. Tôi sẽ giải thích tại sao, còn nguyên nhân thì sẽ bàn trong một dịp khác. 
Đại học VN hiện nay vẫn tồn tại như là một ốc đảo, thiếu sự tương tác với công chúng, xã hội, và kĩ nghệ. Ai đã từng ghé thăm và làm việc các đại học VN, dù là đại học “hoành tráng” nhất, sẽ thấy rất rõ đó là những công sở, với cổng kính tường cao, và giờ mở cửa y như một cơ quan hành chính của Nhà nước. Thư viện thì hầu như chẳng có sách để đọc và tham khảo, mà hình như nhà trường cũng chẳng quan tâm đến thư viện (do thiếu ngân sách). Người dân rất khó tiếp cận đại học, và không có hi vọng gì để được vào đọc sách trong thư viện. Ngược lại, các đại học phương Tây là những thiết chế của cộng đồng, của người dân, ai cũng có thể ghé qua và có thể tham gia những hội thảo dành cho công chúng. Người dân cảm thấy tự hào đó là một cơ sở khoa học và văn hoá của cộng đồng mà họ đóng góp tạo dựng nên. 
Khả năng sáng tạo ra tri thức mới của đại học VN cũng không đáng kể. Một thước đo về đóng góp vào tri thức khoa học là số công trình nghiên cứu trên các tập san quốc tế. Trong tổng số bài báo khoa học từ VN trên các tập san quốc tế (hiện nay ~2300 bài), các đại học đóng góp chưa đến 50%. Thật ra, trong số hơn 200 đại học, chỉ có khoảng 20 đại học là có đóng góp vào công bố quốc tế, và cũng chỉ tập trung các trường lớn. Những trường nhỏ và mới như Tôn Đức Thắng, ĐH Quốc tế, ĐH Nha Trang, ĐH Đồng Tháp, v.v. cũng có đóng góp khiêm tốn (mỗi trường đóng góp từ 5-20 bài mỗi năm). Tổng số bài báo khoa học từ tất cả các đại học VN còn thấp hơn 1 đại học của Thái Lan (như Chiang Mai hay Chulalongkorn). Tổng số bài báo khoa học từ VN chưa bằng phân nửa số bài báo của một đại học bên Singapore! Về sáng tạo, các đại học VN cũng chẳng có đăng kí bằng sáng chế quốc tế. Con số là 0. Nói chung, nghiên cứu khoa học và khả năng sáng tạo của các đại học VN chưa đáng kể. Ở đây, chúng ta chưa bàn nguyên nhân, chỉ nêu sự thật. 
Những sinh viên mà đại học VN đào tạo khó tìm được việc vì không đáp ứng nhu cầu của giới kĩ nghệ. Ngay cả những người tìm được việc vẫn phải cần đào tạo lại. Một viên chức người Việt thuộc Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) nhận xét: "Hệ thống GD-ĐT [giáo dục và đào tạo] lâu nay của Việt Nam còn bất cập. Tỉ lệ người được đào tạo ra đạt tiêu chuẩn quốc tế là rất ít." Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo ở trong nước, hàng năm có khoảng 20.000 sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng. Trong số này, chỉ có 50% sinh viên tốt nghiệp kiếm được việc làm sau khi tốt nghiệp; và trong số tìm được việc, chỉ có 30% tìm được việc đúng ngành nghề. Ngay cả những sinh viên đã tìm được việc làm, họ đều phải được huấn luyện lại, nhất là ở các công ty ngoại quốc. Trong nhiều công ty liên doanh với Việt Nam, như Intel chẳng hạn, hầu hết sinh viên Việt Nam đều phải được đào tạo lại cả về chuyên môn lẫn kỹ năng giao tiếp. Do đó, đại học Việt Nam không sản xuất được một lực lượng lao động có đủ trình độ đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và xã hội Việt Nam.
Nhưng điều này có lẽ không ngạc nhiên, vì đầu vào còn khá thấp. Theo một nghiên cứu về kỹ năng tiếng Việt trong các sinh viên khoa ngữ văn năm 1997-1998 tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, trong số 752 sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ tư (những cử nhân văn chương tương lai), chỉ có 45% đạt yêu cầu về chính tả và 26% đạt yêu cầu về cú pháp. Do đó, không ngạc nhiên khi đầu ra cũng thấp. Trong một cuộc hội thảo với chủ đề "Toán, lý, hóa trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" trước đây vài năm, một đại biểu của Hội Toán học Việt Nam đánh giá trình độ sinh viên tốt nghiệp trong nước như sau: "Có thể nói không quá đáng rằng, trình độ đại học hiện nay chỉ bằng đại học đại cương (hai năm đầu của đại học nước ngoài), cao học bằng đại học, và phó tiến sĩ chỉ bằng cao học". 
Đại học VN khó trở thành một trung tâm văn hoá. Chương trình giảng dạy (nhất là các môn khoa học xã hội và nhân văn) đều chịu dưới sự kiểm soát của một cơ chế vô hình nào đó. Một báo cáo của chuyên gia nước ngoài nhận xét rằng “các trường đại học Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bị bóp nghẹt về tri thức, trong khi công chúng đang phản ứng ngày càng lớn." Vụ Nhã Thuyên vừa qua là một ví dụ tiêu biểu về bóp chết tự do học thuật. Thiếu tự do học thuật làm cho các đại học VN không thể nào hoàn thành sứ mệnh khai hóa xã hội.
Nói tóm lại các đại học VN đã thất bại trong việc thực hiện những chức năng của một đại học hiện đại. Nếu một đại học mà chỉ đào tạo và không quan tâm có hay không có những hoạt động liên quan đến sáng tạo tri thức mới và đóng vai trò trung tâm văn hoá, thì có lẽ nên xem đó là trường cao đẳng. Mà, quả vậy, có thể nói không ngoa rằng, chiếu theo những tiêu chuẩn học thuật nghiêm túc, phần lớn các đại học VN chỉ là các trường cao đẳng chứ không phải đại học đúng nghĩa.
Sự thất bại này là tiền đề để suy nghĩ về việc sắp xếp lại hệ thống đại học – cao đẳng. Theo tôi, trước hết phải phân tầng các đại học thành 3 nhóm: nhóm elite, nhóm đào tạo, và nhóm địa phương. Nhóm elite gồm những đại học có thể tự chứng minh đạt được 4 chức năng tôi đề cập trên đây, đặc biệt là nghiên cứu khoa học. Nhóm đào tạo không cần ưu tiên làm nghiên cứu khoa học mà chỉ tập trung đào tạo chuyên gia có phẩm chất chuyên môn tốt. Tôi nghĩ đến nhóm này như là những “college of advanced education” (CAE) của Úc thời thập niên 1980-1990. Còn nhóm “địa phương” là những đại học do địa phương quản lý, họ cũng đào tạo và ở mức độ khiêm tốn làm nghiên cứu khoa học, nhưng chức năng của họ là phục vụ phát triển kinh tế - xã hội - văn hoá của địa phương là chính. Dĩ nhiên, không ai ngăn cản một CAE hay đại học địa phương không vươn tầm trở thành một đại học elite, nhưng tạm thời phải có phân tầng chứ không thể theo chủ nghĩa bình quân được. 
Tôi nghĩ sự thất bại của đại học VN có nguồn từ sự lẫn lộn giữa đại học và cao đẳng dạy nghề. Đại học là một thiết chế dành cho những “learned people” (tạm xem là học giả), nó không chỉ đơn thuần là nơi đào tạo chuyên gia kĩ thuật, càng không đơn giản là nơi dạy nghề. Nếu chỉ đào tạo chuyên gia thì nên xem đó là viện công nghệ. Đại học theo cái nhìn của tôi không thể có những môn học vốn thuộc sở trường của các cơ sở dạy nghề như “hospitality”, du lịch, nhà bếp, tiếp tân. Một đại học đúng nghĩa theo tôi phải có những môn học mà phương Tây gọi chung là liberal studies như nghệ thuật, ngôn ngữ cổ và kim, văn hoá, văn học, v.v. hay những tri thức phổ quát. Sinh viên y không chỉ học y học mà còn phải học các môn học liberal studies. Nhưng ở VN, người ta lẫn lộn giữa giáo dục đại học, đào tạo chuyên môn, và cao đẳng. Điều này dẫn đến những tranh cãi có khi vô bổ về vai trò của “đại học”, và làm cho nền giáo dục đại học thật sự bị thất bại trong vai trò đáp ứng nhu cầu tri thức và văn hoá của người dân, thất bại trong sáng tạo ra tri thức mới, và thất bại trong việc đóng góp cho nền kinh tế quốc dân.
(Theo FB Nguyen Tuan)

Ngày 05 tháng 08 năm 2014

Ảnh cực hiếm về binh lính người Việt trong Thế chiến I

(Soha.vn) - Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày mở màn Thế chiến I, chúng ta hãy cùng nhìn lại một số hình ảnh về binh lính người Việt tham chiến trong thành phần Quân đội Pháp

Khi thực dân Pháp thực hiện việc xâm lượt và cai trị Việt Nam (khi đó họ gọi là An Nam), để bình định thêm các thuộc địa và gây chiến với nhiều quốc gia khác, lực lượng binh lính người Việt đã bị bắt và chiêu mộ để phục vụ cho mục đích chiến tranh này, dấu chân của họ đã in khắp các chiến trường Âu Phi.

Tại cảng Lyon - Pháp, những binh lính người Việt đầu tiên đặt chân lên đất Pháp để rồi từ đó ngang dọc khắp các chiến trường, chiến đấu tại những nơi họ chưa hề biết tới
Năm 1915, những người lính An Nam cập cảng Marseille cùng binh lính Pháp tham gia Chiến tranh thế giới thứ I (CTTG I)
Lính An Nam tại Saint-Raphael, đây là những người lính thiện chiến nhất trong chế độ bảo hộ Pháp đang trên đường ra mặt trận
Năm 1916, lính An Nam nghỉ chân trong lúc đóng quân cạnh Ypres- Bỉ
Người Pháp dùng rất nhiều lính Việt tại chiến trường Ypres
Năm 1914 - 1918 tại mặt trận sông Marne, binh lính An Nam trong các chiến hào
Năm 1916, lính An Nam tại chiến trường Hy Lạp xa xôi
Văn hóa Việt vẫn được những người lính mang theo tới tận trời Âu
Một hình ảnh rất thuần Việt
Ngày 20/4/1919, một người lính Việt tham gia binh biến tại Hắc Hải đã kéo cờ đỏ trên chiến hạm Pháp ủng hộ cách mạng Nga đó là cố chủ tịch Tôn Đức Thắng
Nghĩa trang dành cho binh lính Đông Dương tại Gironde, nơi những người con đất Việt yên nghỉ
Gửi thân nơi đất khách
Chủ tịch Hồ Chí Minh mặc niệm trước đài kỷ niệm những người lính Việt Nam chết trong Chiến tranh thế giới thứ I

Trần Hữu Phúc - theo Trí Thức Trẻ

Ngày 28 tháng 07 năm 2014

Dự luật cho ma



Người Đô Thị - Tối qua tại một nghĩa trang, một con ma buồn bã gào lên:
- Đời thế là chẳng còn gì vui!
Mấy hồn ma khác ngạc nhiên bay lại hỏi:
- Ủa, tụi mình bây giờ không phải lo nghĩ chi cả, cứ sáng nằm ngủ đến khuya thì từ đáy huyệt chui lên kiếm chỗ lai rai tán dóc, thế mà bảo chẳng còn gì vui?

- Vậy là tụi bây chưa biết mới có cái dự luật phòng chống tác hại của lạm dụng rượu bia, gắt lắm, chẳng hạn không bán rượu bia cho người dưới 18 tuổi, cho phụ nữ có thai và đang cho con bú, người tham gia giao thông, không bán rượu bia từ 22 giờ đến sáng hôm sau…
Một con ma nghe tới đó thì bực tức ngắt ngang:
- Cái dự luật ấy muốn “chơi” tụi mình đó, vì nhậu từ 22 giờ tới sáng chỉ có… ma thôi!
Cả đám nhao nhao phản đối:
- Đúng rồi, luật này kỳ thị loài ma, phản đối!
Đợi tiếng lao xao lắng bớt, con ma già nhất nghĩa trang lên tiếng:
- Thử hỏi có thằng chủ quán nào điên tới mức đi xét chứng minh nhân dân của từng khách nhậu để biết tuổi không?
- Không!
- Có chủ quán nào tốt bụng tới mức giữ xe hộ rồi nhờ người chở khách về để khách khỏi phải “tham gia giao thông” không?
- Làm gì có!
- Và có chủ quán nào tự nguyện cứ đúng 10 giờ tối là đóng cửa đuổi khách dù luật cho phép kinh doanh đến 23 giờ?
- Không hề!
- Thấy chưa! Cho nên cũng như cái vụ phạt hút thuốc lá nơi công cộng vậy, tụi bây chớ có lo, chừng nào con người tăng giá rượu bia vô tội vạ như tăng giá xăng thì mới phải lo!
Con ma già đang hí hửng vì được đồng loại khen thông minh thì có tiếng nói đâu đó:
- Sáng dạ như thế đừng chết sớm là được vào ban soạn thảo dự luật rồi!
Người Già Chuyện 

Ngày 26 tháng 07 năm 2014

Muốn sống lâu thì phải... ?


Các bạn nghĩ xem mình nên làm người nào?

Và đây là "kinh nghiệm" của người Tàu...

1- Chỉ hút thuốc, không uống rượu (Lâm Bưu) thọ 63 tuổi,

2- Chỉ uống rượu, không hút thuốc (Chu Ân Lai) thọ 73 tuổi,

3- Vừa uống rượu, vừa hút thuốc (Mao Trạch Đông) thọ 83 tuổi,

4- Vừa uống rượu, vừa hút thuốc, vừa đánh bài (Đặng Tiểu Bình) thọ 93 tuổi,

5- Vừa uống rượu, vừa hút thuốc, vừa đánh bài lại có cả vợ bé (Trương Học Lương) thọ 103 tuổi,

6- Không uống rượu, không hút thuốc, không đánh bài cũng không có bạn gái, chỉ làm người tốt việc tốt (Lôi Phong) hưởng dương 23 tuổi.

(sưu tầm)

Làm lãnh đạo quá dễ, ai chả làm được?

Nhiều người nói làm lãnh đạo rất khó, phải có đầu óc, học hành thế nọ thế kia… Tôi thì thấy làm lãnh đạo ở Việt Nam quá dễ.
Đi vay về làm thì ai chả làm được!?
Khai thác kiệt quệ tài nguyên khoáng sản bán giá rẻ ai chả khai thác được!?
Làm theo kiểu “nói một đằng làm một nẻo” ai chả làm được!?
Làm mà không bị dân giám sát, không công khai minh bạch ai chả làm được!?


Chỉ đạo nhưng cấp dưới không làm theo hoặc làm không ra gì ai chả chỉ đạo được!?
Chống tham nhũng mà càng chống tham nhũng càng mạnh ai chả chống được!?
Làm theo kiểu “vừa đá bóng vừa thổi còi”, “đánh bùn sang ao” ai chả làm được!?
Làm vừa xong đã hỏng ai chả làm được!?
Làm tốn kém gấp nhiều lần thế giới ai chả làm được!? Lát 1 mét vỉa hè hết 1 tỷ VND ai chả lát được!?
Làm sai thì sửa ai chả làm được!?
Thua lỗ thì “khoanh nợ”, “giãn nợ”, “gánh nợ”, “xóa nợ” thì ai chả sản xuất, kinh doanh được!?
Đất nước phát triển cùng với nợ công tăng cao thì ai chả làm được!?
Làm để hàng trăm ngàn doanh nghiệp thua lỗ, phá sản thì ai chả làm được!?
Làm để mất lòng dân thì ai chả làm được!?
Làm để dân oán thán thì ai chả làm được!?
Giá chỉ có tăng không giảm, không theo mặt bằng thế giới, đắt gấp nhiều lần thế giới ai chả làm được!?
Làm để người nghèo mắc bệnh phải nằm nhà chờ chết vì không có tiền để vào bệnh viện chữa trị thì ai chả làm được!?
Làm mà đạo đức xã hội ngày càng bại hoại, con người ngày càng vô cảm, dã man thì ai chả làm được!?
Làm mà để người dân phải tự tử để thoát nghèo thì ai chả làm được!?
Làm để hàng trăm nghìn thạc sĩ, cử nhân thất nghiệp thì ai chả làm được!?
Làm để đánh giày, nhặt rác, osin… cũng được coi là nghề thì ai chả làm được!?
Làm mà đất nước ngày càng tụt hậu so với khu vực và thế giới thì ai chả làm được!?
Làm mà người chết và tật bệnh mỗi năm một tăng cao thì ai chả làm được!?
Nói những điều vô nghĩa, vô tri thì ai chả nói được!?
Để làm được như vậy đâu có gì khó, cần chi phải lựa chọn, bầu bán!? Những hậu quả sờ sờ không thể chối cãi như thế, liệu đường lối chúng ta đi có “đúng đắn” và “sáng suốt”!?

N.V.H
Đầu trang
Giữa trang
Cuối trang