Chia cho nhau nụ cười héo úa Sẻ cho nhau giọt lệ tươi vui Xoa cho nhau bao vết chém của đời Cùng nhau nhặt lại những gì rơi rụng...Cùng nhau nhặt lại những gì rơi… rụng…

Ngày 09 tháng 09 năm 2014

Lối về chân mây

Bài viết hơi lan man, văn phong và bố cục không mấy mạch lạc lại  có phần hơi luộm thuộm. Nhưng nội dung chứa đựng nhiều thông tin "lạ", nên có lẽ cũng "quý" với những ai quan tâm đến văn nghệ và giới văn nghệ một thời điêu linh ở xứ sở này (dvq).
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Mưa Paris giọt buồn rơi thánh thót, 
Cơn mây chiều giăng nỗi nhớ quê hương. 
Thu đến sớm lá hôm qua vàng vọt, 
Gió nửa khuya rụng vài chiếc bên đường..!
(Mưa Paris)

Tôi thường nghĩ: «Một tác phẩm ở bất cứ một thể loại nào, dù là văn học hay nghệ thuật, giá trị đích thực không hẳn ở lời khen tiếng chê, mà tùy thuộc vào tác phẩm có thực đi vào lòng người hay không. Tuy nhiên người đời vẫn lầm lẫn giữa tác phẩm và nhân cách tác giả! Người nghệ sĩ và tác phẩm là hai thực thể tách rời nhau nhưng lại khắn khít, có chung một niềm bất hạnh chứa đầy rủi ro, đôi khi bị vùi dập vì ngộ nhận! Tâm hồn nghệ sĩ rất phóng khoáng, bao dung, yêu thiên nhiên, yêu tha nhân, yêu cuộc đời cho dù đời muôn cay đắng! Người nghệ sĩ chân chính yêu nghệ thuật và yêu tự do như hơi thở mạng sống.” 

Trong dòng lịch sử tân nhạc Việt Nam đã mấp mé gần thế kỷ khởi từ những nhạc sĩ đầu tiên như Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Xuân Khoát, Văn Chung, Lê Yên, Doãn Mẫn, Văn Cao, Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Lê Thương, Hoàng Qúy… Những giai điệu quê hương mang tính lãng mạn, trữ tình của dòng nhạc tiền chiến. Gió vi vu trên đồi, rừng xào xạc lá, những tiếng động va chạm phát ra trong thiên nhiên... thoảng nghe chỉ là những tạp âm. Nhưng nếu tất cả những âm thanh đó hòa với nhau, phải chăng lại là bản giao hưởng tuyệt vời mà tạo hóa đã ban cho con người? Hay phải đợi đến lúc xuất hiện người nghệ sĩ, nhờ sự rung động cảm xúc, đã biết vận dụng kỹ thuật, chắt lọc các âm thanh phối hợp thành một thứ nghệ thuật gọi là âm nhạc ?”. 
Vòm trời văn nghệ vừa tắt một vì sao, nhạc sĩ Trịnh Hưng vừa giã biệt chúng ta! Hương hồn nghệ sĩ ấy đã bỏ trần thế đi về miền miên viễn tìm cõi phiêu bồng trú ngụ. Hôm nay tôi xin dạo một khúc nhạc lòng, nén hương để tiễn người đi xa.
Trịnh Hưng sinh năm 1930 tại Hà Nội, nguyên quán Bắc Ninh, bố là một quan huyện, mẹ là thứ thiếp. Ông mồ côi mẹ lúc mới ba tuổi, nên sống với một người bà con ở Hà Nội.Thuở thiếu thời, cuộc sống của ông rất chật vật, ông có người bạn rất thân thuộc gia đình khá giả là Phạm Nghệ. Ông cho biết: “Phạm Nghệ mới có năng khiếu âm nhạc bẩm sinh nhất là phân biệt được những âm sắc của tiếng động ở những cường rất độ nhỏ”. Hai người cùng đi kháng chiến lúc tuổi còn rất trẻ để thỏa chí làm trai, họ cùng chung trong đoàn văn công. 
Trong chiến khu ông được thụ huấn một lớp âm nhạc do Gs Tạ Phước giảng dạy. Sau nhiều năm dài tham gia kháng chiến, hai người đã cùng bỏ hàng ngũ về thành vào những thời gian khác nhau. Nhạc sĩ Phạm Nghệ di cư vào nam, sau đó qua Pháp du học ngành âm nhạc và trở về trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn làm giáo sự thực thụ môn violon, cho mãi dến 1975 ông cùng gia đình di tản qua Hoa Kỳ. Trịnh Hưng và Phạm Nghệ vẫn giữ tình bằng hữu nồng ấm như thủơ ban đầu và liên lạc thường xuyên với nhau. Do đó, người có thể biết được Trịnh Hưng nhiều nhất ở Mỹ là giáo sư Phạm Nghệ. 
Vì biết mình chỉ còn con đường âm nhạc để tiến thân, nhạc sĩ Trịnh Hưng ngoài ngón đàn Mandoline, Hawai, ông đã học sáng tác và dành nhiều thì giờ tự tập thêm đàn Guitare trong cuốn Méthode de Guitare soạn bởi F. Carulli, được giáo sư Tạ Phước chép lại. Nhờ sự chăm chỉ tập luyện, ông có thể độc tấu Tây Ban Cầm cho bằng hữu thưởng lãm. 
Ðầu năm 1952 ông sáng tác bản đầu tay là : “Lối Về Xóm Nhỏ” theo điệu Fox. Ca từ trong thời đó hoàn toàn khác với ca từ và cấu trúc nhạc phổ biến sau này. Nhạc sĩ Trịnh Hưng đọc cho tôi ghi, có sự hiện diện con trai ông là cháu Trịnh Phước Ðạt và cháu gái của ông tên là Hoàng Thị Hương trong lúc ông ở bệnh viện, trước khi ông rơi vào hôn mê một ngày. 
Tôi không chép ca từ đó ra đây vì lý do: Ca từ sau đẹp hơn ca từ trước vì nó mang tính nghệ thuật, cấu trúc và thể điệu phong phú, mới hơn. Có thể nói nhạc sĩ Trịnh Hưng là một trong số những nhạc sĩ tiền chiến viết theo dòng nhạc ngũ cung, dân ca dân nhạc, và là một trong những người tiên phong đổi mới làn điệu dân ca qua các thể điệu Tây Phương như: Cha cha cha (Lối Về Xóm Nhỏ), Mambo - Boléro (Lúa Mùa Duyên Thắm, Trăng Soi Duyên Lành, Tình Thắm Duyên Quê, Tiếng Ca Dân Lành), Rumba ( Miền Nam Mưa Nắng Hai Mùa). 
Trong thời gian ở vùng chiến khu miền Thanh Hóa, nhạc sĩ Trịnh Hưng ở chung với gia đình ông bà Lê Khải Trạch và nhận ông bà Lê Khải Trạch là anh chị nuôi. Cũng chính ở đây ông gần gũi và thân với nhà thơ Quang Dũng, vì nhà thơ Quang Dũng là bạn thân với ông bà Lê Khải Trạch. Lúc trước ông đã từng gặp gỡ nhà thơ Quang Dũng và nhà thơ Hữu loan, nhưng vị thế của ông và hai người khác nhau nên chưa có sự giao tình đậm đà. Nhạc sĩ Trịnh Hưng cho biết: “Nhà thơ Quang Dũng rất đẹp trai và đa tài. Ông cũng như nhạc sĩ Văn Cao nhà thơ Quang Dũng biết Cầm, Kỳ, Thi, Họa, ngâm thơ và hát rất hay” , Ông thường độc tấu đàn cho nhà thơ Quang Dũng nghe, cũng vì thế ông trở thành em kết nghĩa với nhà thơ Quang Dũng. Và cũng từ điểm này ông cũng trở thành em kết nghiã với ông Trần Chánh Thành (thời đệ nhất Cộng Hòa giữ chức Bộ trưởng Thông tin), ông Trần Chánh Thành là bạn thân của vợ chồng ông bà Lê Khải Trạch. Những người này đang chuẩn bị để trở về thành. Trên đường về thành phải qua những trạm kiểm soát của công an Việt Minh, để tránh bị phiền nhiễu, bà Nguyễn Thị Chi vợ của ông Lê Khải Trạch (từng đảm nhận chức Ðổng lý văn phòng bộ trưởng bộ Xã Hội, Lao Ðộng thời đệ nhất Cộng Hòa), đã nhận Trịnh Hưng là em ruột, từ đó Trịnh Hưng đổi thành Nguyễn Văn hưng. Nhạc sĩ Trịnh Hưng cho biết ông cùng các anh chị về thành năm 1952. 
Về Hà Nội nhạc sĩ Trịnh Hưng đi đánh đàn trong các phòng trà dancinq cho lính Tây khiêu vũ một thời gian ngắn, và dạy thêm đàn Hawai cho một số em học sinh. Sau đó ông vào Sài Gòn muốn tiếp tục đàn cho các phòng trà Dancinq nên đã đến gặp ông bầu quản lý các ban nhạc các phòng trà là nhạc sĩ Trần văn Lý, một danh thủ piano, accordéon và cũng là nhạc trưởng của dancinq Kim Sơn, các phòng trà và đài Sài Gòn. Nhưng vì các nơi đó đã có đủ nhạc sĩ, nên ông chỉ được mướn chơi đàn thế những lúc các nhạc sĩ bị bệnh hay vì một lý do nào đó vắng mặt. 
Trong sự bấp bênh đó, may thay có người giới thiệu ông đến khu Hồ Văn Ngà, một khu vực bán đàn và dụng cụ âm nhạc thời bấy giờ. Vì thấy ông chơi đàn giỏi, người chủ mướn ông ngay và còn cho ông mở lớp nhạc tại đó nhằm mục đích câu khách. 
Cách tiệm bán đàn của ông không xa, có hai lớp dạy nhạc của hai danh sư là nhạc sĩ Lâm Tuyền và nhạc sĩ Trọng Khương. Thời cuối thập niên năm mươi nền âm nhạc Tây Phương đang thịnh trong giới thượng lưu trí thức Sài Gòn, những nhạc sĩ chơi đàn guitare giỏi như Lâm Tuyền, Trọng Khương, Trịnh Hưng không nhiều lắm. 
Nhạc sĩ Trịnh Hưng nhờ lớp nhạc mà trở nên khá giả, đời sống trở nên phong lưu, tiền bạc dư giả, quan hệ bạn hữu càng rộng rãi, ông lập gia đình 1955. Cuối năm 1956 nhạc sĩ Trịnh Hưng dời lớp nhạc về số 9/1 Cao Thắng, và ở đó đến ngày ông qua định cư bên Pháp. 
Ở lớp dạy nhạc Cao Thắng ông dạy đủ thứ: đàn Mandoline, Hawai, Guitare, và Luyện thanh, nhưng chỉ có môn guitare là sở trường của ông. Có rất nhiều nghệ sĩ sau này thành danh đã từng đến học ông, hoặc nhờ ông chỉ dẫn hoặc nhờ sự đỡ đầu của ông trên lãnh vực âm nhạc. Những ca sĩ đã từng học ông: Ánh Tuyết, Thanh Thúy, Bạch Yến, Túy Hồng..và các nhạc sĩ như:Trúc Phương, Phạm Thế Mỹ, Ðỗ Lễ... Riêng cặp nghệ sĩ Ngọc Cẩm Nguyễn Hữu Thiết chỉ mượn chỗ của ông để luyện thanh, và nhạc sĩ Nguyễn Hữu Nghĩa mượn chỗ của ông để dạy sáo. 
Nhạc sĩ Trịnh Hưng gặp nhạc sĩ Trúc Phương vào cuốn năm 1967, lúc đó nhạc sĩ Trúc Phương đang dạy kèm nhạc cho một cô con gái của một nhà xuất cảng tại Sài Gòn. Qua hình nốt và giai điệu, mối duyên âm nhạc đã nảy sinh chuyện tình giũa người nhạc sĩ nghèo và người con gái nhà giàu. Vì mối tình trắc trở đó, nhạc sĩ Trúc Phương đã viết ca khúc Lỡ Chuyến Ðò, và muốn tung nhạc Phẩm: Lỡ Chuyến Ðò của mình ra thị trường, nên Trúc Phương đã đến nhờ nhạc sĩ Trịnh Hưng đỡ đầu lancer. Trong giao tình nhạc sĩ Trúc Phương đã học thêm về kỹ thuật sáng tác của Trịnh Hưng, và hai người đã viết chung ca khúc: “ Tình Thắm Duyên Quê ”. 
Thời kỳ ở chung với ông bà Lê Khải Trạch, Trịnh Hưng đã thầm trộm yêu cô con gái ông bà Lê Khải Trạch là cô Lê Thị Bích Liên. Người thiếu nữ mới chớm tuổi trăng tròn cũng thầm mê tiếng nhạc của chàng nhạc sĩ nghèo. Mối tình đầu thơ ngây, trong sáng tưởng sẽ thăng hoa, nhưng ai ngờ mối tình đầu đời gặp đầy oan trái! Cuộc tình chỉ kéo dài chưa đến một năm thì tan vỡ vào cuối năm 1954. Nhưng nợ tình còn vương vấn mãi đến ngày trước khi bị hôn mê, nhạc sĩ Trịnh Hưng vẫn còn nhắc tên người tình xưa!! Ôi chữ tình! 
Nhạc sĩ Trịnh Hưng ôm mối tình sầu buông lời ai oán. Ca từ ray rức than thở tiếc nuối : 

Buồn trông mây tím giăng ngang trời, 
Chiều thu như chết trong lòng tôi. 
Ðêm nào em khẽ nói bên tôi, 
Đây tình yêu trong trắng trao tôi 
Em thề yêu chỉ anh mà thôi. 
Lời xưa âu yếm nay đâu rồi? 
Thoáng như cơn gió đưa bèo trôi. 
Ai ngờ câu chót lưỡi đầu môi, 
Đem tình yêu gian dối trao tôi, 
Cho lòng tôi mang mãi hận đời ! 
Ôi tình lỡ rồi mà hình bóng người còn như mãi trong lòng tôi. 
Duyên tình lỡ làng đành nhớ tiếng đàn 
Tìm trong quên lãng theo thời gian! 
Ðàn tôi đã đứt giây tơ rồi. 
Mình tôi cam sống trong lẻ loi. 
Ai làm cho đôi lúa đôi nơi, 
Cho lòng ta đau xótkhuôn nguôi 
Mong thời gian xóa đi hận đời

Trịnh Hưng trách ông tơ bà nguyệt không se duyên, hay trách nghịch cảnh? Vì trên danh nghĩa ông là cậu của người đẹp Bích Liên. Gia đình của ông Lê Khải Trạch là một gia đình danh tiếng và đầy thế lực lúc bấy giờ, do đó dư luận nào cho phép!? Nhạc sĩ Trịnh Hưng đành chôn chặt khối tình si trong lòng, và từ nỗi đau đó nhạc sĩ đã viết được một ca khúc tuyệt đẹp, giai điệu lãng mạn, cấu trúc cầu kỳ, ca từ đãi lọc qua thể điệu Tango. Ðây là một bài độc nhất trong đời nhạc sĩ Trịnh Hưng viết về “tình yêu đôi lứa”, một ca khúc ngoài chủ đề quê Hương. Nhạc sĩ Trịnh Hưng mê người đẹp Bích Liên lắm, bằng chứng ông vẫn để tấm hình cỡ trung của người thiếu nữ rất đẹp này trên đầu giường. Ông nói: “Tấm ảnh đó đã theo ông hơn nửa thế kỷ và lúc nào cũng để đầu giường”. 
Tôi có hỏi ông: 
“ Tại sao anh không viết thêm những bài trữ tình như thế nữa?” 
Ông trả lời: 
“ Nàng đã mang hết tình yêu của tôi đi rồi, còn yêu gì nữa mà viết!” 
Tôi hỏi tiếp: 
“ Ngày trước tôi không được nghe bài này, anh có lancer trên đài không?” 
Trịnh Hưng cười nói: 
“ Có chứ ! Tôi bỏ tiền ra lancer vài lần trên đài phát thanh Sài gòn, nhưng không gây được ấn tượng thính giả, nên dẹp luôn! 

Tôi im lặng, một thoáng suy tưởng về dòng nhạc Tango lãng mạn, vào thời điểm đó những nhạc sĩ viết thể điệu Tango tuyệt vời là Hoàng Trọng, Dương Thiệu Tước, Ngọc Bích và Trần Hoàn thì bài Tìm Quên của Trịnh Hưng bị chìm là lẽ đương nhiên! Hơn nữa những ca khúc ca ngợi tình quê hương đang được chính quyền thời đó khuyến khích, thì những bản nhạc chỉ đề cao tình cảm trái ngang đôi lứa ít được phổ biến, nhạc tình chỉ dành cho số ít người hâm mộ. 
Hôm vào thăm nhạc sĩ Trịnh Hưng lúc ông còn tỉnh, tôi có đề cập đến bài Tìm Quên và định hỏi những ca sĩ nào hát bài đó. Nhưng ông say sưa kể chuyện đời và về những văn nghệ sĩ khác. Lòng tôi xa xót vì biết đây là những lời cuối của một kể sắp ra đi, do đó tôi thôi không hỏi và im lặng nghe ông nói. 
Cũng như bao gia đình khác ở miền nam, tháng tư năm 1975 là một biến cố lớn trong đời nhạc sĩ Trịnh Hưng. Mấy người anh kết nghĩa trong chiến khu: nhà thơ Quang Dũng thì bị tước đoạt đi ngòi bút sau vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, đời sống bị dập vùi tối tăm không biết trôi dạt đi đâu! Còn ông anh rể (trên giấy tờ) là ông Lê Khải Trạch bị VC bắt đi mất tích ngay sau ngày 30 tháng tư năm 1975, và người anh kết nghĩa thứ ba là ông Trần Chành Thành thì tự tiết khi VC vào chiếm Sài Gòn. Những chỗ dựa tinh thần của nhạc sĩ Trịnh Hưng bị hụt hẫng, mất hút. Bằng hữu văn nghệ thì tản mạt khắp phương trời. Kể từ đó ông đâm ra cô đơn, chán đời! Ông đã từng sống với Việt Minh nên hiểu rõ bộ mặt CS, ông biết cách thu mình, điếu đóm với công an khu vực cho qua ngày. Sau này ông tâm sự với tôi: 
“Khi CS vào chiếm miền nam, tất cả anh em đều đi tù; mà tôi vẫn mở lớp dạy nhạc; dù rằng những bài nhạc thực tập là những bài nhạc vàng, được xếp loại văn hóa đồi trụy...nhưng tôi vẫn cảm thấy hổ thẹn vì mình không được đi tù, nghĩa là không được xếp loại thành phần Nguy hiểm, Trí thức Văn Nghệ sĩ!” 
Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng chợt hiểu cái tính ngông thời đại của kẻ sĩ. 

Sau năm 1975 ngọn lửa bạo lực đã thiêu rụi mạch sống của vườn hoa văn nghệ miền Nam. Biết bao văn nghệ sĩ tinh hoa của đất nước bị tước đoạt ngòi bút, không những thế còn bị đầy ải, cầm tù trong chiến dịch X2, mệnh danh «chiến dịch đánh văn nghệ sĩ phản động» như: Doãn Quốc Sỹ, Duyên Anh, Hồ Hữu Tường, Hồ Văn Ðồng, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Hoàng Hải Thủy, Hoàng Anh Tuấn, Hồ Nam, Họa sĩ Chóe, Họa sĩ Ðằng Giao, Sơn Ðìền Nguyễn Viết Khánh, Hoàng Vĩnh Lộc, Thân Trọng Kỳ, Minh Ðăng Khánh, Lê Văn Vũ Bác Tiến, Nguyễn Mạnh Côn, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Như Phong Lê Văn Tiến, Mạc Thu, Thái Thủy, Thanh Thương Hoàng, Tô Ngọc, Thái Dương, Trần Việt Sơn, Lý Ðại Nguyên, Trịnh Viết Thành, Cao Sơn, Trịnh Hưng, Nguyễn Khánh Giư, Ngô Công Minh, Ðậu Phi Lục, Võ Xuân Ðình, Anh Quân, Nguyễn Văn Minh (Minh Vồ), Ninh Chữ, Uyên Thao .v.v.. Trong đó, những người đã chết trong tù: Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Phạm Văn Sơn, Hiếu Chân, Ngọc Thứ Lang, Dương Hùng Cường, Minh Vồ, Thục Vũ, Minh Kỳ, Hồ Ðình Phương, Minh Ðăng Khánh... và những người được thả ra về nhà chết: Vũ Hoàng Chương, TrịnhViết Thành, Anh Quân, Trần Việt Sơn…
Bạo lực có thể cướp đi mạng sống của con người, nhưng vẫn không thể nào hủy diệt được tâm hồn nghệ sĩ chân chính và những người yêu tự do. Nhạc sĩ Trịnh Hưng ôm cái thẹn của kẻ sĩ, vì những người trên đều là bằng hữu của ông. Ðến khi người con trai ông bị công anh đánh chết vì tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự, không chịu sang Campuchia. Thế là ngọn lửa căm thù có dịp bùng phát. Nhạc sĩ Trịnh Hưng chỉ trong 15 phút viết xong nhạc phẩm: “Ta Quyết Tâm Ðập Tan Lũ Giặc Hồ”
Gần 50 năm kể từ bài nhạc đầu tay, và hơn mười mấy năm sau bài “Hoan Hô ngày 26 tháng Mười” ra đời năm 1962 ca ngợi tổng thống Ngô Ðình Diệm, bài nhạc được bộ thông tin mua 70 ngàn đồng, số tiền quá lớn ở thời điểm ấy. Do những uẩn ức trong lòng đã giúp ông nguồn cảm hứng viết lại dòng nhạc mạnh. Và cũng chính bài nhạc này xúyt tí nữa ông đã bỏ đời trong sà lim! Số phận một tác phẩm chìm nổi tùy theo tác động của xã hội. Nhưng tác giả vẫn là kẻ bị vùi dập bởi bạo quyền khi dám lên tiếng tố giác những bất công, cường bạo của xã hội! 
Tôi hỏi ông: “Làm sao công an biết mà đến bắt anh?” 
Ông đanh mặt lại như còn hậm hực: 
“Chúng nó để ý tôi lâu rồi! Chúng rình, quyết bắt tôi về tội nhạc vàng, nhưng cứ mỗi lần chúng xông vào tôi cho học trò đàn những bài nhạc Liên Sô.” 
Ông kể tiếp: 
“Hôm đó cũng như những lần trước, học trò tôi đang đàn, công an ập vào xét nhà chúng lục một hồi thấy những bộ nhạc tuyển hàng trăm bài của các bạn bè nhạc sĩ tặng, tôi rất qúy nên đóng thành tập bìa mạ vàng thật đẹp, và cất dấu nó rất kỹ. Khi chúng lục lọi và tìm thấy, chúng mừng quá vì đã tìm ra chứng cớ buộc tội tôi chứa văn hóa đồi trụy. Chúng lập biên bản và xét người tôi, lòi ra bài "Ta Ðập Tan Lũ Giặc Hồ". Tên công an chỉ đáng tuổi con tôi, nó hét ầm lên chửi, và xỉ vả tôi thậm tệ. Tôi rất an nhiên, có lẽ đó là lần đầu tiên trong đời tôi giữ được sự bình thản như thế!” 
Viên chỉ huy công an hỏi: 
“Ông chứa chấp đồ phản động, lại còn viết nhạc kêu gọi lật đổ chính quyền, ông không sợ tù hả?” 
Nhạc sĩTrịnh Hưng điềm tĩnh trả lời: 
“Tôi chờ nó từ lâu, các ông đến hơi muộn.” 
Viên công an giận dữ lên đánh báng súng trượt qua mặt ông. Trịnh Hưng nói: 
“Nó hù tôi chứ cái báng súng đó vào đầu là chết ngay!” 

Trong số những ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Hưng viết trước năm 1975 về quê hương; ông thích nhất bài Tôi Yêu sáng tác năm 1954, vì nó là sự hoài niệm nhớ quê hương xứ Bắc. Những hình ảnh lũy tre, con sông, bến đình, chợ làng quê... Ông mang thêm hình ảnh nhịp cầu tre miền nam đem nhập vào toàn cảnh để có một bức tranh quê sống động. 
Trong cấu trúc nhạc, ài Tôi Yêu được viết theo cung Ré trưởng vui tươi, hành âm vừa phải và theo nhịp 2/2 hay (C chẻ ), hợp với tiết tấu, giai điệu và ca từ. Ðiểm đặc biệt trong bài này, ông đã dùng quảng 9 (vàng bến đình....yêu trăng buông lơi), từ nốt Là lên nốt Si thường gặp ở nhạc không lời hay nhạc ngoại quốc. Ở thời điểm đó ít có nhạc sĩ miền nam viết. Vì ngôn ngữ Việt đơn âm, chọn lựa một ca từ nghe hợp êm tai rất khó, nhạc sĩ Trịnh Hưng đã thành công ở sự chọn ca từ bài này. Nhạc sĩ Trịnh Hưng kể cho tôi nghe: Khi viết xong bài nhạc, Trịnh Hưng có khoe với vài người bạn nhạc sĩ, tất cả đều chê viết như thế là không đúng, và khuyên ông nên sửa lại. Ông tự ái và nhất quyết tung ra thị trường và đã thành công, được mọi người yêu thích mãi đến hôm nay.. Do đó trước lúc giã từ cuộc đời, tôi hỏi ông: “Bài nhạc nào ông thích nhất?”. Ông trả lời: “Bài Tôi yêu.” Tôi hởi tiếp: “Anh phục nhạc sĩ nào nhất, tại sao?” . Trịnh Hưng trả lời: "Nhạc sĩ Lam Phương, Trần Thiện Thanh, Y Vân, Văn Phụng, Trúc Phương, Phạm Duy.... Riêng Trịnh Công Sơn có tài và may mắn gặp thời. Những nhạc sĩ tôi kể trên là vì họ sáng tác bài nào cũng trên trung bình. Ðó là một điều rất khó trong sự nghiệp sáng tác của đời nghệ sĩ. Anh Phạm Duy thì rất có tài và có nhiều bài hay nhưng cũng lắm bài dở, và anh ấy có lắm tật!!”. Nhạc sĩ Trịnh Hưng không dám đụng tới những nhạc sĩ tiền chiến, anh rất tôn trọng họ. 
Thật ra trong làng âm nhạc miền nam, nhất là sau thập niên năm mươi xuất hiện nhiều nhạc sĩ có tài nhưng theo khuynh hướng nhạc tình lãng mạn, bán cổ điển, có phong cách thính phòng, hay nhạc thời trang ca ngợi tình quê hương, tình đôi lứa trong thời chiến, và nhạc trẻ. Tôi biết anh Trịnh Hưng không chuyên về loại nhạc đó, nên không nhắc tới những người viết. Tôi hỏi tiếp: 
“Trong số các văn nghệ sĩ từ thời tiền chiến đến nay anh phục ai nhất? Tại sao?"
Nhạc sĩ Trịnh Hưng trả lời: 
"Về phía nhạc tôi phục nhất là nhạc sĩ Lê Thương, và văn thơ tôi phục nhất nhà thơ Quang Dũng, vì hai ông đều là người có đức độ, đứng đắn, đôn hậu, cư xử tế, biết thương anh em.” 
À, thì ra nhạc sĩ Trịnh Hưng trọng đức hơn tài! Lòng tôi bỗng hoan hỷ vì không nhận xét lầm Trịnh Hưng. Cho đến lúc tàn hơi cuối đời của ông, những tấm lòng tốt vẫn là những hình ảnh ngự trị trong tâm não, chiếm hữu tình cảm của ông. 
Trịnh Hưng tính tình hiền hòa nhưng hay cục, ông ăn nói bộc trực, nghĩ sao nói vậy. Nhiều lúc ông phát ngôn người nghe đến ngượng tai! Ông rất ghét những người đạo đức giả, nhưng lại rất kính trọng những người đạo đức. Ông thường ví von nói với những người chung quanh khi nhận nhật xét đạo đức người nào đó: 
“Con ruồi đực bay ngang không những ông phân biệt được đâu là con ruồi đực, đâu là con ruồi cái, mà còn nhận biết cả con ruồi lại cái nữa!” . 
Bằng hữu nghe cười, hiểu tính khôi hài của ông. Riêng ông chỉ muốn góp mặt, làm cười cho mọi người vui nên thích kể chuyện tiếu lâm, nhất là những câu chuyện tiếu lâm dân gian châm biếm chế độ CS. Ông rất có duyên kể chuyện, mọi người nghe đều cười ồ, và có những tiếng cười kéo dài nắc nẻ. Nhưng chuyện tiếu lâm dù có hay thì cũng chỉ nghe một lần, và bằng hữu không muốn ông kể lại ở những lần khác, nhất là các bà! Nhìn anh thở dốc tôi nén xúc động hỏi: “Trong đời anh thích nhất cái gì?” Nhạc sĩ Trịnh Hưng mở to đôi mắt vung tay nói lớn: “Tôi thích Tự Do!”. Tôi và anh đồng cười lớn cảm nhau qua câu nói. 

Nhạc sĩ Trịnh Hưng dáng người nhỏ bé, gầy gò, đôi má nhăn nheo xếp thành vết nứt như mùa hạn hán, nhưng đôi mắt vẫn sáng ngời, lấp loáng ánh tinh ranh. Ai vì vô tình chạm đến ông, người đó khó được ông bỏ qua, đôi khi quá mạnh tay! Bằng hữu chơi với ông thường họ không chấp nhặt ông chuyện này, mà thường qúy ông ở những nhạc phẩm mà ông đã cống hiến cho đời, qua đó người ta tìm lại hững kỷ niệm thuở thiếu thời, vì đã từng ca hát nhạc của ông.. Nhiều năm sau này ông luôn đội chiếc mũ feutre nỉ, phong cách của các công tử đất Hà thành năm xưa, ông còn chống cây gậy. Thật ra ông thích có chút hình ảnh nhạc sĩ Văn Cao lúc xế chiều. 
Tôi qúy Trịnh Hưng không chỉ về lãnh vực âm nhạc, mà còn qúy ở tấm lòng của anh biết chia sẻ với bằng hữu, nhất là bạn văn nghệ. Trịnh Hưng và tôi quen với một cặp vợ chồng hành nghề y, cả hai thích ca hát hơn đến phòng mạch làm giầu. Trong một buổi họp mặt thân hữu, bà kể cuối tuần qua, bà đi chợ ở khu Á Châu Paris 13. Bà đứng xếp hàng đằng sau bị che khuất, thoáng thấy một ông cụ già đứng xếp hàng phía trước khá lâu chỉ để mua một gói mì. Khi cụ già quay mặt lại bà bạn mới nhận ra là nhạc sĩ Trịnh Hưng. Bà thấy xót xa quá gọi lớn tên anh, cả dãy người mới biết đây là người nhạc sĩ danh tiếng một thời. Trịnh Hưng cười chào, rồi lững thững chống gậy bước đi. Tôi nghe bà bạn cho biết nên vội vã ghé thăm anh. Vì đến bất chợt không báo trước, phòng của anh thì không bao giờ khóa. Tôi thường bảo anh nên khóa của. Anh nói: “Có cái gì đâu mà mất, ít cuốn sách, dăm tờ báo bằng hữu gởi tặng, ai mà thèm đọc mà lấy . Chỉ có mình mới yêu nó, trân trọng nó thôi, chứ của nả gì thứ đó!” Tôi hết ý kiến! 
Thấy tôi bước vào, nét mặt anh Trịnh Hưng tươi lên. Tôi thấy anh ngồi co rúm trên giường, đèn phòng không mở, ánh sáng lờ mờ trông anh thật bệnh hoạn! 
Tôi hỏi: “Anh ốm hả?” 
Trịnh Hưng cười rói lên: 
“Ốm cái gì..., ốm đàn bà thì ốm!” 
Chúng tôi kéo nhau ra khu Á Châu quận 13 ăn và bù khú. Tôi không nhắc đến chuyện anh mua gói mì vì sợ anh tự ái. Tôi hiểu con người Trịnh Hưng đầy rẫy mặc cảm tự tôn cũng như tự ti. Anh chỉ hỏi xin những người anh thật thân và qúy. Anh nghĩ nhận của bạn là nhận sự chia xẻ, người đó không phải cho anh mà chia xẻ với anh. Hiểu điều này nên tôi đã vận động bằng hữu văn nghệ đến thăm. Rất nhiều người trong giới trí thức văn nghệ sĩ thường đến thăm hỏi, giúp đỡ anh. Anh có mấy người con đều khá giả, có chồng Pháp cuộc sống trung lưu ở xã hội Pháp hiện nay. Ðám con anh rất thương anh, muốn giúp đỡ anh nhưng lại sợ tính bất thường của bố! Những tặng phẩm, quà biếu anh không chê, nhưng thái độ biếu phải chân thành, nếu không lộ chân tình anh sẽ thẳng thắn từ chối và còn mắng người cho. Nhiều bằng hữu than với tôi: “Ông Trịnh Hưng...nghèo mà làm phách! Chẳng hiểu anh làm cách nào mà chịu nổi ông?!” . Thật ra chẳng có bí quyết gì ngoài tình thương! Tôi kiếm lời giải thích. 
Có lần nhà báo Trần Văn Ngà ở Mỹ sang thăm Paris, tôi dẫn anh Ngà và nhà báo Dương Văn Lợi đến thăm anh tại trung tâm dưỡng lão, gặp con gái của anh là cô H. Trinh đang chăm sóc cho bố. Cháu H. Trinh muốn mời chúng tôi đến dùng cơm tại nhà cô. Anh Trịnh Hưng nhìn tôi như muốn tôi nhận lời. Thế là hôm sau chúng tôi hẹn nhau cùng anh Trịnh Hưng đến nhà con gái anh dùng cơm trưa. Nhà con anh ở một khu khá sang ở Paris, chiếm nguyên một dãy, nghĩa là quá nhiều phòng thừa. Trong nhà trang trí những thứ đắt tiền. Ăn xong, chúng tôi từ giã gia chủ để về. Anh Trịnh Hưng kêu to lên: 
“Các anh chờ tôi về chung với.” 
Chúng tôi ngạc nhiên. Tôi hỏi: 
“Nhà con anh đẹp quá sao không ở chơi lâu một chút?” 
Trịnh Hưng trả lời: 
“Về nhà mình tuy nghèo nhưng được tự do hơn. Tính tôi thích bừa bãi, lại lơ đãng, nhỡ mình lỡ tay đụng bễ đồ của nó thì phiền! Con mình thì không sao, chứ thằng chồng Pháp của nó nếu có nặng nhẹ thì gia đình mất vui đi. Ai mà mang lại phiền hà đến hạnh phúc của con.” 
Tôi nghe anh tâm sự mà thấy thương anh, tấm lòng của người cha đối với con thật cao cả, nhưng con anh nào biết.! Chúng cứ ngỡ bố chúng khó, con mời về nhà mà chê! 

Nước Pháp không giầu bằng nước Mỹ, nhưng vấn đề an sinh xã hội và bảo hiểm y tế thì rất tốt, nhất là đối với trẻ em và người già. Anh Trịnh Hưng ở trong khu dưỡng lão vùng Créteil, cách khu chợ Á Châu quận 13 chừng 10 phút xe. Ðó là một trung tâm tốt và đắt tiền nhưng chính phủ trả hết. Trước năm 2000 tôi xuống Lyon sinh hoạt văn hóa, thấy hoàn cảnh của anh Trịnh Hưng, về Paris tôi nhờ chị bạn là điêu khắc gia Vương Thu Thủy có chồng làm công chức tại tòa thị chính Créteil. Nhờ sự giúp đỡ đó, anh Trịnh Hưng mới vào được trung tâm dưỡng lão gần Paris. Số tiền già hàng tháng của chính phủ trợ cấp cho anh Trịnh Hưng đủ sống, ngang với tiền hưu trí của một người làm vìệc lương căn bản dưới 30 năm trên xứ pháp. Ðối với lối ăn xài của người Việt là dư chút đỉnh. Tôi ngạc nhiên vẫn thấy anh Trịnh Hưng vẫn cần kiệm kham khổ. Ở chỗ thân tình anh không dấu tôi. Ðể anh có thể tham gia sinh hoạt văn hóa và chung vui với bằng hữu, tôi giúp anh những khoảng đóng góp. Anh yên tâm tham dự. 
Tôi biết anh Trịnh Hưng thường bớt phần ăn của mình để gởi tiền về giúp những bạn tù còn ở quê nhà. Do đó tôi đã chia xẻ cùng anh. Anh tâm sự với tôi ao ước về quê hương thăm mộ của mẹ anh mà hơn 70 năm anh chưa lần viếng, và cũng chẳng biết phần mộ ở đâu! Hơn nửa năm dành dụm, anh đã có đủ tiền vé máy bay, nhưng tiền chi tiêu và biếu bạn thì quả là nan giải! Anh không muốn xin các con, tôi hiểu nên kêu gọi vài người bạn văn nghệ giúp anh, trong đó có nhà thơ Kim Vũ ờ San Jose, vợ chồng nhà thơ Tina, Lê Trọng Nghĩa ở Sacramento, nhà văn Trần Ðại Sỹ ở Paris giúp anh một số thuốc đem về bán và tôi giúp anh chia sẻ với một số ít văn nghệ sĩ, và chọn vài người trong nhân văn giai phẩm mà tôi chưa biết mặt nhưng rất ngưỡng mộ. Anh Trịnh Hưng nhận lời vì họ đều là bạn anh. 
Tôi lo lắng sợ nhạc sĩ Trịnh Hưng về VN sẽ gặp nhiều rắc rối, vì những bài viết tố cộng của anh đăng tải trên khắp các báo ở Hải ngoại. Và việc anh về thăm các nhà thơ bị trù dập trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, dù phát xuất từ tấm lòng trong tình người, không một ý nào khác, nhưng tôi vẫn sợ những con người trong xã hội CS đa nghi, họ có thể giữ anh Trịnh Hưng, hay mượn cớ nhốt anh ấy lương tâm tôi sẽ không yên ổn được! 
Và nhạc sĩ đã làm cuộc hành trình về quê hương. Về đến Hà Nội Trịnh Hưng hỏi thăm nhiều nơi về địa chỉ nhà thơ Quang Dũng, nhà thơ Hữu Loan, nhà thơ Hoàng Cầm, nhưng chẳng một ai biết! Lần mò mãi ông cũng đã tìm được gia đình của nhà thơ Quang Dũng và nhà thơ Hữu Loan. Rất khó khăn và vất vả ông lặn lội xuống tạn Thanh Hóa, thuê xe ôm tìm nhà của nhà thơ Hữu Loan cách thành phố mấy chục cây số. Và cuối cùng nhạc sĩ Trịnh Hưng cũng gặp được nhà thơ Hữu Loan. Sau khi về Paris anh đã viết lại cuộc hội ngộ đó. Tôi xin trích một đoạn đối thoại giữa anh và nhà thơ Hữu Loan: 

Nhà thơ Hữu loan kể: 
“...Sau khi hoàn thành việc đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, bọn họ phát động phong trào đấu tố toàn tỉnh Thanh Hóa. Từ thành phố đến huyện xuống tới xã thôn, nơi nào cũng có cán bộ đến giải thích kích động hô hào. Biểu ngữ căng đầy đường. Ngày đêm, họ tụ họp các thanh niên nam nữ, thiếu niên, nhi đồng, đi thành từng đoàn, hô to những khẩu hiệu được học thuộc “Hãy giết sạch lũ địa chủ cường hào ác bá!” “Đào tận gốc, trốc tận rễ!" "Cường hào ác bá ra tro!"... Khắp chốn, các đội cán bộ đến lôi dân chúng ra tuyên truyền nhồi sọ những lời vu oan giá họa dùng để áp đặt lên những người bị đem ra đấu tố. Dân chúng kinh hoảng khi thấy đội cán bộ vào làng để học tập việc đấu tố. Quyền hành sinh sát trong tay họ. Dân chúng sợ quá nói với nhau “Nhất Đội, nhì Trời”! Đội gieo tang tóc, máu đổ thịt rơi, gây kinh hoàng, làm cho từng người dân đêm nằm ngủ không yên, lúc nào cũng nơm nớp lo có người trong đội hoặc du kích rình rập bên ngoài nghe trộm".
Nhà thơ Hữu Loan ngừng nói, nhấp vài hớp trà, rồi nhìn tôi đăm đăm, kể tiếp: 
"Lúc đó, anh còn là chính trị viên tiểu đoàn. Anh thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Hơn nữa, mình là người có học, hiểu biết luân thường đạo lý, lại có tâm hồn nghệ sĩ, nên anh cảm thấy chán nản quá và không còn kính trọng già Hồ cũng như chủ nghĩa cộng sản nữa. Tuy nhiên, anh đã trót làm đảng viên được mấy năm rồi. Thú thật với chú, lúc đó anh thất vọng vô cùng! 
Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa anh ở độ mười lăm cây số, có một gia đình địa chủ rất giầu nắm trong tay gần năm trăm mẫu tư điền. Ông địa chủ giầu lòng nhân đạo, rất yêu nước thương người. Ông thấy bộ đội sư đoàn 301 của anh thiếu ăn, nên ông thường cho tá điền gánh gạo tới chỗ đóng quân để ủng hộ bộ đội. Anh là Trưởng Phòng Tuyên Huấn và Chính Trị nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông ta, đồng thời đề nghị lên Sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông. Riêng anh rất quý mến và luôn luôn nhớ đến ông. 
Thế rồi một hôm anh nghe tin gia đình ông địa chủ ấy bị đội đấu tố mang cả hai vợ chồng ra cho dân đấu tố, sỉ vả, nhục mạ, rồi chôn xuống đất để hở có cái đầu lên thôi. Xong, họ cho trâu kéo bừa qua lại hai cái đầu cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ xấu số chỉ còn có một cô con gái mười bảy tuổi được tha chết nhưng bị đội đấu tố đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo. Dã man hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm dân chúng cả việc lấy các con cái của địa chủ làm vợ làm chồng. 
Anh Hữu Loan chớp chớp đôi mắt nhăn nheo có hai vành mi ướt đỏ đượm mầu thương cảm. Anh mím miệng, nuốt nước bọt cho bớt nghẹn cổ, rồi kể tiếp: 
"Biết chuyện thảm thương giáng xuống gia đình ông bà địa chủ mà anh hằng nhớ ơn, anh trở về xã đó xem cô con gái của họ sinh sống ra sao, vì trước kia anh cũng biết mặt cô ta. Lúc gần tới nơi, may sao anh gặp cô ta áo quần rách mướp, mặt mày lem luốc, đang lom khom tìm lượm vài củ khoai mà dân bỏ sót nhét vào túi áo, rồi chùi vội một củ vào quần đưa lên miệng gặm. Anh quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra. Anh lại gần hỏi thăm và được cô ta kể lại rành rọt hôm cha mẹ cô bị đấu tố chết ra sao. Cô ta khóc mếu nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hàng ngày cô phải đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong cái miếu hoang; cô rất đói khổ lo lắng, không biết ngày mai còn sống hay sẽ chết vì đói khát! 
Anh nghe mà lấy làm thương tâm quá, trong lòng vô cùng xúc động. Anh bèn đem cô ta về quê của anh, rồi bất chấp lệnh cấm, anh đã lấy cô ta làm vợ. Cho đến ngày nay, bà ấy đã cho anh mười người con ngoan. Khi xưa, quê anh nghèo, nhà anh cũng nghèo, anh lại còn ở trong bộ đội nên không có tiền. Nhưng hai vợ chồng cố gắng chịu đựng đùm bọc nhau bữa đói bữa no. 
Sau khi lấy vợ, anh trở lại đơn vị làm đơn xin bỏ ngũ và trả lại thẻ đảng, rồi về quê luôn không chờ cấp trên có chấp thuận cho anh giải ngũ hay không. Được một năm, vợ anh sinh cho anh một cháu trai rất kháu khỉnh.” 

Như một vì sao băng, băng mãi. Vệt sáng vạch đêm đen làm ngọn nến đưa ông vào cõi vô tận. Ở đó không có tranh đua, hận thù và phiền não. Và cũng chẳng cần những nốt nhạc ru đời và ru mình. Hồn sẽ an nhiên. 
Tiễn bạn một vần thơ cũ: 

Ngủ đi anh thế là xong một kiếp, 
Cõi đời này ô trọc, nghĩa gì đâu! 
Xuôi bàn tay hồn thênh thang giấc điệp, 
Về phương xa chắc giải hết nỗi sầu.

Paris 29052008 
Ðỗ Bình
(http://dactrung.net)

0 nhận xét:

Cảm nghĩ của bạn

Cảm ơn bạn đã xem bài đăng! Xin cho biết cảm nghĩ của bạn!

Đầu trang
Giữa trang
Cuối trang